Thơ Hương Đình

Em Pleiku vẫn má đỏ môi hồng

Văn học Gia Lai, một năm Cọp được mùa... lúa !

 

   “Choáng” với miên di.

   Tôi muốn viết bài này khác với thông lệ mọi năm, bằng cách đẩy cái hình-hài-cá-nhân ra đằng trước, rồi chuyện “làng nước” sẽ từ từ viết sau vậy.

   Năm ngoái, cũng khoảng tầm này, tôi tình cờ được đọc thơ Vi Thủy và viết ngay đôi dòng cho những trang viết mới mẽ mà lạ lẫm này. Bây giờ thì Vi thủy vẫn mới mẽ, dù không còn lạ lẫm với bạn đọc nữa và tôi luôn dè dặt kỳ vọng vào cây bút trẻ này. Vi Thủy là một phát hiện bất ngờ thú vị, là hoa đào năm ngoái. “Choáng” với miên di là tâm trạng của tôi những ngày cuối năm này. Tôi không viết sai bút danh của miên di đâu ạ. Cứ miên di thế, chứ không phải là Miên Di. Phải chăng đó cũng là một cái cách để bước đầu ta tiếp cận với cây bút này. Ngẫu nhiên tôi đọc miên di và tự tìm đến anh, rồi tôi thật sự “choáng” trước anh, với những gì anh vừa làm được cho văn chương trẻ hay cái khu vực văn học được mệnh danh là “hậu hiện đại” kia, ròng suốt nửa năm qua.

   miên di tên thật là Lê Xuân Hòa, sinh năm 1976, hiện ở Pleiku, đang kinh doanh chút chút, thoạt nhiên làm thơ chùm chùm, băm bổ viết trường ca, viết truyện ngắn cho người lớn, cho thiếu nhi, rồi hốt nhiên nhảy sang cày ải bên tiểu luận, tạp bút, phê bình, xập xí xập ngầu đủ cả. Chẳng hạn “Tân Dế mèn phiêu lưu ký” là một kế hoạch nhỏ trước mắt và trường ca “Những trang tối” là một đầu tư lâu dài của anh, dù rằng chính anh cũng không biết (hay không cần biết) mùa vụ sắp tới nó sẽ “xanh cỏ” hay “đỏ ngực” như thế nào nữa. Mà, quái, viết ra cái nào gần như được in cái nấy, trong tỉnh, ngoại tỉnh, trên Văn nghệ trẻ, trên những trang web văn chương có hạng. In không kịp thì anh post lên blogs, lên web, hết miendi.vnweblogs.com đến miendi.com, những trang màn hình đặc kín những con chữ mà nếu mới vừa đọc qua, hiểu chết liền. Bây giờ, hãy nghe những đoản khúc thơ anh:  

   Những đứa bé / bị đẻ vào bi ai người lớn / lê la trên mảnh vỡ thủy tinh hôn nhân sắc nhọn / khóc ré...(Trang 11) - Không mới lắm, nhưng dù sao cũng tạo được những hình ảnh và âm thanh ấn tượng.

   Bãi tị nạn Thơ / chật những linh hồn...(Tiếng rắm của Thơ) - Có thể sẽ có người dị ứng với cái tiêu đề, nhưng những câu thơ kia là cả một sự dấn thân quyết liệt.

   Chiếc lá vàng chợt hiểu mình là rác / ai đem buồn vứt vào sọt trăm năm...(Trang 1) - Nghe vừa quen, vừa lạ.

   Cái gối mềm trăn trở mãi không êm / kẽ dột thấm loang tường chút lạnh...(Nhánh đêm gầy) - Dường như có cái gì đó vừa lăn qua da ta, loang vào hồn ta, một chút ngậm ngùi.

   Tiếng dế gáy trong ngăn lòng rưng rức / cọng chiếu sờn cạ tủi một manh vênh...(Mùa chiều) - Tiếng dế gáy trong ngăn lòng rưng rức đã là rất ổn, nhưng âm thanh quen thuộc này vẫn văng vẳng đâu đấy, tiếng dế của nhà nào ấy, của cánh đồng nào ấy. Nhưng đến cọng chiếu sờn cạ tủi một manh vênh thì đặc biệt lạ với riêng tôi, như một kiểu “hậu hiện đại” chấp nhận được. Nghe đâu đó hình như có một chút Lê Đạt, mà không phải, một thoáng đâu đó của một cây bút trẻ nào chăng, mà cũng không, tuyệt đối không. Đó là 100% miên di, của miên di.

   Đến những trang viết lẻ của miên di thì, gọi nó là gì cũng được, thôi tạm gọi là tiểu luận, mà nếu không phải là người quen thì tôi chắc không dễ gì đọc hết, đọc hết có mà tẩu hỏa nhập ma. Khiếp. Một trang “Văn nghệ trẻ” kín dằng dặc những chữ là chữ, những con chữ không thể liếc qua một lần. Hãy nghe miên di viết: Chúng ta vẫn thường xuyên bắt gặp những băn khoăn, thậm chí cãi vã về một nội dung nôm na là: Có cần thiết không khi cứ lợp ngói nhà mình bằng tôn thừa nhà người khác? Những mái tôn “hậu hiện đại, tân hình thức” lượm về từ những môi trường văn hóa khác ấy, liệu có vừa với kết cấu rui mè của tâm hồn người Việt, vốn đã quen nếp rạ mái tranh? Cá nhân người viết vốn không cổ súy việc “tận dụng” phương pháp sáng tạo nhà người để “gò ra” những cái khuôn tuyên ngôn thơ này, trường phái thơ nọ để nhốt chính mình, cái cần thiết là ở sự giao thoa...” (Thơ ý niệm con đường tiệm cận thực tại vô thể).

   miên di viết như thể bị ma đuổi, như thể để tiêu hóa cho kịp nhanh kịp hết cái vốn liếng ngồn ngộn mà anh vừa tiếp nhận kia: Nghệ thuật, vốn có vị trí đi trước quán tính ì ạch của xã hội, bởi xã hội có tương quan rộng, vì thế nghệ thuật thường… cô đơn, nó như con sếu đầu đàn, mà đâu phải con nào cũng về tới đích toàn thây, vì luôn phải là kẻ đầu tiên phải hứng chịu “bão gió”. Nhưng nhờ thế mà mang lại cho xã hội những tiếng nói kháng nghị, những lời sấm truyền dự báo... Thơ cũng như hội họa, văn học… đang phải trải qua sự lục vấn truy tìm giá trị của quyền lực thời gian, trên bãi sống ngổn ngang bao nấm mồ vô danh của những tác giả  không thể tìm được con đường đi tiếp. Họ, lúc ra đi thì hăm hở nhưng dần hồi chết gục dần giữa sa mạc mông lung… nhưng những người khác lại vẫn đã tiếp tục, vẫn viết tiếp sự dở dang. Và chắc chắn một ngày nào đó sẽ về đến đích… (Nàng thơ dậy thì và cơn đói đương đại)

   Một cuộc rượu, miên di tâm sự với tôi: tuổi thơ em, thôi khỏi nói còn hơn, em không được học hành nhiều, em cũng mới viết đấy thôi... Không cần thiết đâu miên di à. Với tôi, lâu lắm rồi tôi mới gặp một khuôn mặt như thế đấy. Một miên di vong niên chơi được, một miên di đa diện, đa thanh bằng những thể nghiệm đôi khi khá liều lĩnh, văng mạng, mâu thuẫn và xung đột, với những triết lý cỏn con chênh vênh trên cái điểm tựa do anh tự cấu trúc và trần mình ra lắp ráp. Tôi thấy miên di đang lầm lũi bước, vừa đi vừa vén sương, bước một vén một màn sương, thì bước hai kia đã ba bốn màn sương ùa tới, cứ thế, cứ thế và những màn sương trước mặt anh mãi trập trùng, thăm thẳm.

 

   Đã hé lộ một lớp cây bút trẻ mới và mới.

   Đó là những tín hiệu cực vui dù nó còn nhấp nháy đâu đó bên kia trời, mà có thể tôi còn bị sót với lần “điểm danh” này. Họ nhiều bút danh quá chăng. Cũng giống như mình thôi, mới viết thì lắm tên lắm tuổi và thường tự sướng với những bút danh ấy khi một bài viết nọ được đăng.

   ... Đó là căn nhà của gió, căn nhà trống hoác gió bốn mùa cười nói vui vẻ, cứ ào tới bên nó cười đùa vui vẻ, ve vuốt mái tóc đỏ quạch bết mồ hôi và bụi đất của nó, lúc thì gió cuồng nộ gào thét xung quanh như những cơn say mệt nhoài của mẹ. Nó yêu vô cùng sự nhẹ nhàng của gió, yêu những lúc giận hờn cuồng nộ gió cứ quấn lấy nó, thè cái đầu lưỡi lạnh lùng liếm vào làn da tím tái vì rét, vì lạnh, và vì đói khi đợi mẹ...   

   và đây nữa:

   ... Nó lặng im nhìn hạnh phúc tràn về bên mình khi nghe lời cầu hôn chính thức của Minh, khép lại mọi cơn ác mộng ở phía sau lưng để cùng gió tìm về thiên đường tràn ngập tiếng cười của gió, của Minh, của nó và của một đứa trẻ đang thành hình trong tình yêu của gió...

   Đấy là tôi trích đoạn một truyện ngắn của Chu Lê. Chu Lê là bút danh của Lê Thị Kim Sơn, lại một cô giáo dạy họa ở huyện Đăk Đoa. Vi Thủy cũng là dân hội họa chính gốc. Hóa ra họ cũng là bạn của nhau, đồng môn và cùng một lứa bên trời. Hình như miên di cũng có máu “vẽ vời” kia lắm, cứ xem anh trình bày cái con web của anh thì tỏ. Thế là một lớp dân hội họa (hoặc thích hội họa) làm thơ đã lộ diện. Trong thơ có họa, trong họa có thơ, và vì thế mà so với những ngành nghệ thuật khác, thơ với họa chúng gần gũi hơn chăng. Lê Thị Kim Sơn, một tay vẽ, còn tay kia viết truyện, cả làm thơ. Thơ Sơn in cũng đã kha khá trên Tạp chí Văn nghệ Gia Lai rồi, nhưng truyện mới là cái mà tôi chú ý đến chị. Mà bước đầu xuất hiện thế là được lắm rồi. Thời của chúng tôi nó không được sạch nước cản đến như thế đâu, cứ phải kì cạch mãi đấy.

   Năm nay Văn nghệ Gia Lai in khá nhiều tác phẩm của các cây bút trẻ, đó là một sự mạnh tay cần thiết. Họ, có người tôi biết, có người tôi không, nhưng rất mừng khi lấp lánh đâu đó trên những trang viết mới lần đầu dè dặt gửi đến tòa soạn, ta bắt gặp một tứ truyện, một câu thơ khiến ta bất giác cúi xuống nhìn lại mình: Con cá bống vàng chiều nay đã chết / trong cái niêu đất / tại nhà hàng gì gì đó Lâm...(Những câu chuyện liên quan đến cái chết - Nguyễn Doãn Hùng). Tác giả của nó là một thầy giáo trẻ ở huyện Krông Pa và không hiểu sao tôi cứ vô tư thích cái câu thứ ba vừa trích dẫn kia, như vu vơ, như gió thoảng, như một tiếng đệm không cần thiết, như không là gì cả, nhưng nó lại rất đặc trưng cho một lối viết trẻ bây giờ, chênh vênh trong cái sự không vướng một lề thói ràng buộc nào cả, nhưng những trang viết của họ thì luôn đẫm chất “kiến văn” mà lý do đầu tiên bắt nguồn từ sự ưu ái của thời đại dành cho họ, chẳng hạn internet.

   Và đây nữa, Thái Uyên, một blogger con trai, tên thật là Trần Lê Thái, “Vẫn ngày rất phố” là tập thơ đầu tay mới rượi, rụt rè em gửi tặng tôi, thêm một minh chứng rằng thơ vẫn tồn tại trên cõi đời này. Thơ Thái Uyên còn nhiều bài chưa tới, nhiều tứ chưa chín, nhưng những câu như thế này làm tôi nhớ: Bềnh bồng / Bong bóng bềnh bồng / Chị tôi cõng chồng / Đánh rớt nơi đâu /...(Bong bóng bềnh bồng) - Nghe heo may lẩm bẩm / Cánh thiệp cưới mùa xuân /...(Cho X2) - Buồn tôi. Buồn dài canh ba gà chẳng gáy / Buồn thế giới eo óc vết nhăn hình đầu đạn / Buồn sao tắt em không cười như mơ / Buồn long nhong tang ma tang lễ áo tang xô / Buồn đầu trọc, giá xăng tăng vọt / Buồn bikini váy ngắn thậm thụt /...(Buồn tôi, mua không).

   Có thể còn kể ra đây vài gương mặt nữa, những nhiệt-tình-văn viên đáng yêu. Nhưng với những gì họ mới trình làng, cánh cổng văn chương khắc nghiệt kia vẫn còn đó, đỏng đảnh lỏng then cài.

   Ít rảnh, nên lâu lâu tôi mới ngồi với họ một tí, những Vi Thủy, miên di, Lê Thị Kim Sơn, Nguyễn Doãn Hùng, Thái Uyên, Nguyễn Minh Tuấn,... Rồi có rượu, tôi thường anh cả với họ, thôi đừng mê mải viết về Tây nguyên như thế nữa nhé, ngày xưa mới chân ướt chân ráo lên đây mình cũng thế, những sắc màu hào phóng và chói lóa, những cồng chiêng rộn rã trên nền nhạc, những khuôn ngực thanh tân sơn nữ lên tranh, những vòng xoang túy lúy bà già hổn hển trên từng thớ gỗ, những dã quỳ thơ chiều hắt vàng lên nỗi nhớ, vân vân và vân vân... Tây nguyên nó thế, những không hẳn thế các em ạ, cũng có một góc khuất Tây nguyên với những gam màu trầm mặc lắm, héo hắt lắm và đôi khi cũng trì trệ lắm. Sống chết với Tây nguyên đã, rồi hẵng cầm bút. Đẫm với Tây nguyên đã, rồi hẵng viết. Khuyên họ thế, nhưng chính mình cũng không biết phải làm thế nào, những con Kinh nhỏ thó giữa Tây nguyên đại ngàn.

 

   Còn đây, những lứa bên trời.

   Nãy giờ, không nhắc đến họ không có nghĩa là tôi lãng quên họ, mà vì họ đã định hình trong lòng bạn đọc, những cây bút vẫn còn trẻ (dù tuổi đã hòm hòm), còn sung sức và đang miệt mài thâm canh hoặc xen canh trên cánh đồng chữ nghĩa. Đối với họ, cứ định vị mãi một phong cách lập ngôn như thuở bước vào làng văn đôi khi là một điều cần phải xem lại.

   Đó là một Ngô Thị Thanh Vân vẫn đằm thắm mà dằn vặt trên từng trang viết: tháng sáu nơi này mưa giăng ngập lối / ngày mười hai bão táp điên cuồng / con nhận ra những câu thơ nổi loạn / chẳng thể giữ nữa rồi...(Tháng 6). Nhưng rồi những con chữ nửa tỉnh nửa mê kia đôi khi ngoái đầu nhìn Vân gọi khẽ: hãy thử bỏ bớt một vài trong chúng tôi, hãy thêm cho chúng tôi những người bạn mới, và hãy thử một lần “tái cấu trúc” chúng tôi lại, nhà thơ ơi.

   Đó là một Hoàng Thanh Hương trong tươi tắn kia những con chữ đã bắt đầu cựa quậy, bứt lên, đoạn tuyệt, rồi hụt hơi giữa lớp lớp sóng chữ mênh mông: Bên kia tiếng càu nhàu nhàu con cái / Tiếng quang thúng sắp sửa lên vai / Mùi nhân bánh thơm mời mọc / Người mẹ bắt đầu một ngày / Lũ trẻ bắt đầu một ngày / Cho mùa xuân sắp tới...(Âm thanh).

   Đó là một Vũ Thu Huế vẫn xa vắng mong manh lan tỏa âm thầm: ở đó / xa xa phía môi em / em đang vẽ con lạc đà thương thầm chiếc u quá nhỏ / chẳng đủ để chở những giây phút trở mình / những giây phút trở mình cùng vạt trăng non...(Những dòng...lý sự của em). Nhưng rồi cũng vẫn là sức lan tỏa của những con sóng ấy mà thiếu đi, dù chỉ một vài ngọn sóng dám mạnh dạn quay đầu trước khi triều dâng chăng.

   Đó là một Nguyễn Quảng Hà luôn thủy chung với những câu tình ngọt ngào quẩn quanh của một nhà thơ công chức bộn bề và mẫn cán: Để hờn dỗi cứa vào nơi khóe mắt / có gì đâu hạt cát lạc ấy mà / nhoang nháng nước cuối trời nghe chớp giật / núi cũng rùng mình khi biển chẳng còn em...

   Đó là một Nguyễn Đình Phê cặm cụi với những con chữ cũng có hồn có vía, nhưng dường như những bài thơ mà anh gửi cho Tạp chí Văn nghệ Gia Lai nó như đã được mặc định một cách chắc nịch bằng bộ đồng phục trang nghiêm, chẳng hạn, đang Mùa rất lạ / heo may vừa mới đấy / thoắt đầm đìa sương rơi..., thì lại Vạm vỡ quá / Ngời lên sức sống / Pleiku tạc núi, biển bên trời...(Ngẫu khúc Pleiku). Tôi nhớ đâu đó, hình như trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội thì phải, anh vẫn có những bài được hơn nhiều, chí ít là những tứ thơ lãng đãng như cái phố núi sương mù kia, nơi mà anh đang hít thở và bước đi.

   Đó là Nguyễn Thu Nguyệt, vẫn chưa hết nghẹn ngào: Đêm từng đêm / Em tha thẩn từng con đường hoang vắng / Ngửa mặt / Chờ vì sao bay lạc phía chân trời. Rồi cũng Nguyệt đó, bên những đều đều ngọt đắng chừng mực: Hoa cải vàng ươm sắc nắng / Em ru lòng trong yên lặng / Tháng ba / ... / Những câu thơ suốt một đời dang dở / Như tình yêu dang dở / Tự bao giờ anh đến với em...(Tháng ba)...

   Mình là dân thơ, nên thường lấy thơ ra làm ví dụ và vì thế đôi khi làm cho bài viết cũng lệch hẳn một bên. Giờ mới sực nhớ. Các cây bút văn xuôi (hãy còn trẻ) của tỉnh nhà đâu rồi. Một Trương Lệ Hằng truyện, năng động một tín hiệu, giờ đang ngồi phỏng vấn một ai kia. Một Nguyễn Công Tùng Chinh với những truyện ngắn khởi đầu mà theo tôi, hứa hẹn một tài năng, giờ biền biệt phương nào. Và còn ai nữa. Dù gì thì thơ cũng chỉ là rượu, văn xuôi kia mới là cơm trên cái bàn tròn văn học này đấy.

   “Nhánh” An Khê của Tây Sơn thượng đạo bao giờ cũng là một vùng đất có bề dày võ thuật và văn chương. Năm nay, sau những hồi lần lữa rồi “đẩy nhanh tiến độ”, Chi hội Văn học nghệ thuật thị xã An Khê đã được thành lập. Qua một ngọn đèo quanh co với dằng dặc những thung lũng dã quỳ vàng, có lẽ đó là lý do “chính đáng” mà một vài cây bút An Khê đôi khi vắng mặt trong các cuộc giao lưu hay sơ tổng kết thường niên. Nhưng trên tạp chí văn nghệ của tỉnh nhà thì, theo tôi, hai gương mặt có tên “có tuổi” này luôn hiện diện: nhà thơ lão thành Quốc Thành và nhà thơ lớp U60 Nguyễn Thiện Đức.

   Tôi kính trọng nhà thơ Quốc thành ở cái nghĩa cữ muối mặn gừng cay xin còn có nhau đối với văn chương, khi tuổi đã đến hồi “xưa nay hiếm”. Những trang viết về vùng Tây Sơn thượng đạo của ông luôn là những tư liệu sưu tầm công phu, nhưng rất tiếc khi chúng còn có thể được “đẩy” lên hơn nữa, ánh lên những thăng hoa hơn nữa để trở thành những truyện ngắn lịch sử để đời.

   Nguyễn Thiện Đức là nhà thơ mà tôi hằng quý mến vì tôi biết, để có được hàng trăm câu thơ kia anh phải trả giá bằng hàng trăm ngày vật lộn với lam lũ. Anh viết như thế này, trong bài thơ “Những khoảnh khắc”: lách ra khỏi những chen lấn giựt giành / ta tìm về bên ngõ chiều có bóng tre liêu xiêu dáng mẹ / lách ra khỏi những ầm ĩ cuộc đời / ta trở về nơi một mình mình với câu thơ lặng im khắc khoải... Rồi với “Những câu thơ trên cát”: đi tìm giấc mơ mang cánh đồng mùa vụ / đi tìm những chân trời thênh thang hình cánh chim / đi tìm những bàn chân dáng con thuyền lướt sóng..., đã dần lộ ra Nguyễn Thiện Đức, một “Chân dung”: gió vẽ khuôn mặt ta trên cát / những dải cát mịn màng trắng thơm / những bờ cát yên lành tinh khiết / và khuôn mặt ta như giấc mơ in ngàn dấu chân trẻ thơ lẩm đẩm... Đó là những vần thơ chân thành như chính cuộc đời anh, một chân dung rõ ràng là anh mà lẽ ra có thể cũng cần nên giấu đi một vài nét cọ để dành những khoảng trống kia cho người đọc tự đắp bồi.

   Còn nhiều, nhiều nữa những gương mặt, một lứa bên trời lận đận, khi đến đây bài viết thì đã quá dài nhưng vẫn còn một chuyên mục tế nhị tiếp theo đây mà tôi muốn nhân dịp để bày tỏ.

 

   Giải thưởng và tài trợ, được mùa “lúa” có úa mùa “bạn”?

   Năm nay, các tác giả được mùa “ra tập”. Như Văn Công Hùng với một “Văn Công Hùng lục bát”. Như Hương Đình tôi với “Góc núi”. Như Chử Anh Đào với “Khúc đồng dao cho người lớn”. Như Nguyễn Thiện Đức với cả một trường ca về Mẹ. Như Thu Loan với “Sương chưa tan làng trăng” tái bản, có bổ sung. Và còn ai nữa, tôi không nhớ hết. Sòng phẳng mà nói, có tập ra vì cái “tình”, nhưng cũng có tập vừa “tình” vừa “tiền”, he he...! Mà điều này thì đâu có gì mà tội lỗi. Xuân thu rồi mấy nhị kỳ, nhanh thật, Giải thưởng văn học nghệ thuật 5 năm lần thứ hai (2005 - 2010) của tỉnh nhà lại đến, với tổng số tiền thưởng dự kiến cao ngất trời mây. Ai mà chả ham, nhất là với mấy nhà văn nhà thơ còm cõi này. Các hội đồng từ sơ khảo đến chung khảo đã được thành lập. Vòng sơ khảo đã cho kết quả. Đến khi bài viết này đến tay bạn đọc thì kết quả chung khảo chắc đâu đó đã xong xuôi. Các tác giả đạt giải sẽ được vinh danh. Sau buổi lễ ấy người được, người chưa, “giám khảo” và “thí sinh” bất giác nhìn nhau mà ái ngại. Chung khảo thì còn có giám khảo “lạ”, chứ còn sơ khảo thì nhà văn này nhìn mặt nhà thơ kia, cơm chấm cơm, với bao điều khó nói ra. Riêng tôi, “chủ xị” bất đắc dĩ vòng sơ khảo chuyên ngành văn học, việc tỉnh giao thì phải gánh, phải làm, cho tròn trách nhiệm, chứ không thì chắc thà lẻn cho khỏe. Rồi lại đến Giải thưởng văn học nghệ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ nhất - năm 2010. Có khác đôi chút, nhưng rồi quẩn quanh cũng chỉ những gương mặt ấy, những “giám khảo” và những “thí sinh”. Những giải thưởng định kỳ và những suất tài trợ thường niên hòng kích thích cho sự ra đời của những tác phẩm như hằng mong đợi. Những khoản kinh phí nho nhỏ, nhưng chắt ra từ những giọt mồ hôi nhọc nhằn lấp lóa của nhân dân vĩ đại. Được mùa “lúa” có úa mùa “bạn”? Tôi lẩn thẩn nghĩ. Lẩn thẩn nghĩ thế thôi, vì tôi biết bạn tôi sẽ hiểu. Điều lớn lao hơn là những dòng thơ ấy, trang văn nọ, bức họa kia sẽ làm được gì trước muôn nỗi khốn khó thường nhật của những nông dân quanh năm mặt cắm xuống đất mông chổng lên trời, những công nhân mỏ hàn quai búa lọ nghẹ thường niên, những chị mẹ cô dì ta sớm chiều buôn thúng bán bưng đầu tắt mặt tối...

   Định kết thúc bài viết này, oải quá rồi, thì chợt nhớ rằng ồ còn một sự kiện lớn như thế của đại sự văn đàn quốc gia trong năm nay mà mình chưa đề cập. Thôi thì, muôn thưở một câu như thế này: Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2010 - 2015, đã thành công tốt đẹp và nhà thơ Văn Công Hùng của tỉnh ta là một trong mười lăm người “lọt” được vào Ban Chấp hành.

 

                                                                                                                                                        Noel 2010


Lời sói hoang

 

     Ta con sói cũ đại ngàn

     Một ngày rừng động hồng hoang xa lìa

     Đâu rồi tiếng tru ta xưa

     Chiều nay về lại rừng thưa ướt đằm

 

     Cây già gục xuống trăm năm

     Lưỡi rìu sắc lóa chằm chằm đợi ta

     Tiếng cưa nghiến mép suối già

     Vạt rừng cháy ngún trên da thịt này

     Mẹ chim đã mỏi đường bay

     Tổ non chao chát chiều nay có về

     Uống đi trăn bát huyết thề

     Rượu tràn túy lúy dầm dề cuộc chơi

 

     Ta về ngậm ngải người ơi

     Bóng trầm khuất khuất trăng rơi ròng ròng

     Ta về cất tiếng tru không

     Tiếng ta chìm giữa mênh mông rừng tàn

 

     Xác ta treo lưng thác ngàn

     Thân ta chồi biếc hàng hàng dựng lên.

 

 


Hoa hãnh tiến

 

                                                                 Truyện ngắn

   Đó là một loài hoa dại mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Hoa mọc hoang ở nghĩa địa Xóm Đông, gần quê ngoại tôi. Một cậu bé chăn bò đã nhổ tặng tôi chùm hoa ấy trên một nấm mồ hoang, trong một chiều tảo mộ có tiếng quạ kêu. Thân cây hoa thẳng, cao bằng hoa vạn thọ ngày tết. Gốc hoa như rễ tre, nhưng nhỏ và mềm. Lá như lá lúa, nhưng dày và mọng như lá mồng tơi. Hoa nào cũng chỉ có mười cánh, đỏ như màu máu. Có nụ hàm tiếu, như hai bàn tay chắp lại, nguyện cầu. Có hoa đã nở, như hai bàn tay mở xòe, thành đạt và rạng rỡ. Hoa không thơm mà ngai ngái mùi đất bùn, mùi rạ rơm, mùi cỏ dại.

   Hồi nhỏ, mỗi lần về ngoại, anh em chúng tôi phải mất khoảng một giờ đồng hồ đi bộ. Nhà thì chỉ có mỗi chiếc xe đạp. Đi xe đạp thường nhanh hơn chừng mươi mười phút, nhưng phải lọc cọc vác xe xuống đò, rồi lại còn xắn quần mà đẩy xe qua khỏi bãi cát bên kia sông. Trước khi qua sông, chúng tôi thường phải đi qua vài quãng đồng, vượt qua một nghĩa địa, một đoạn trượt dài theo con đường sắt xuyên làng Nhân Hoà và một khúc quanh co giữa hai bờ tre xào xạc, lích chích tiếng chim. Tất cả đều ở phía bên này sông.

   Nghĩa địa Xóm Đông hồi ấy quả là kinh khiếp đối với tôi, mỗi lần về thăm ngoại. Chỉ một đoạn đường mòn nho nhỏ, nhì nhằng vắt qua lòng nghĩa địa mà sao nó dài, nó xa thăm thẳm thế! Nhiều lúc qua đó, tôi phải cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng để không nhìn thấy những cái nhìn bạc phếch, vô cảm, mà xuyên thấu từ những tấm ảnh đã hoen ố trên những bia mộ kia. Tôi vừa chạy, vừa nghe như có tiếng chân ai đó loạt soạt đuổi theo phía sau mình...

   Tôi cắm nén hương cuối cùng vào chiếc lon sữa bò đặc quánh đất sét của ngôi mộ bên cạnh, một tay cầm chùm hoa dại, một tay đỡ má, đi về phía bờ sông.

   Đi bên tôi, má dân dấn nước mắt: " Dạo này má thường mơ thấy ngoại. Mắt cậu Năm thì còn thấy gì nữa đâu. Vợ thằng Thức thì suốt ngày ngoài đồng. Mấy tháng rồi má không về. Giờ thì, chân với cẳng, bước mấy bước đã phải ngồi. Mà có đứa nào đâu để chở má... ". Tiếng má lẫn vào tiếng gió, tiếng tre, tiếng nước và tiếng còi tàu vừa hú phía xa xa.

   Tôi mướt mồ hôi, bước thấp bước cao bên má. Má từng bước thập thững bên tôi. Hai mẹ con rồi cũng đến được bến đò mà hình như đã non chục năm rồi tôi chưa trở lại. Mênh mông trắng. Mênh mông xanh. Rười rượi nước và gió. Trước mặt tôi là dòng sông quê ngày nào. Sau lưng tôi là những vạt đậu phộng, luống bắp, bãi mía, lùm cây dại, chạy ngược theo sông về phía thượng nguồn.

   Đò ơi!...Đò!...Như từ cõi xa xăm nào kia, có tiếng tôi trong veo vọng lại...                                                                                                                                                                       

   Hai mẹ con rồi cũng dắt díu nhau qua được bãi cát bên này sông. Một góc trời đã bắt đầu đỏ thẫm. Nhà ngoại tôi kia. Những chùm ổi xanh, những trái xoài non đầu vườn có còn lau nhau rụng vào cái lu vỡ, trong đó có cái gáo dừa đã trơn thẫm màu rêu? Hình như có tiếng mõ, tiếng chuông đâu đó của ngoại tôi vừa lọ mọ trong chiều. Chùm hoa dại trong tay tôi lả mềm đi vì thiếu nước...

   Nhà tôi ở thị trấn Bình Hưng. Cái thị trấn nho nhỏ, nửa phố nửa quê, bao đời nay cứ lưng lửng giàu nghèo. Chừng vài cây số đường nhựa, đường sống trâu, đường đò, đường cát lún là đã về đến nhà ngoại, nơi cậu Năm tôi đã mù, ông bà ngoại, cậu Bảy, dì út tôi đã khuất núi. Chỉ cách thị trấn một con sông mà bên kia đã làng quê thăm thẳm.

   Mới đó mà đã hai mươi năm.

   Rời ghế giảng đường, tôi như con chim háu núi, chớp cánh bay lên miền cao.Tây nguyên. Những cơn mưa rừng dai dẳng đến ủ ê. Những mùa khô rông rốc, gió thổi rạp những vạt dã quỳ vàng. Những năm tháng dạy học rồi loang loáng trôi qua. Năm năm. Gần đến hạn chuyển vùng về xuôi thì tôi lấy vợ, bỏ nghề. Tôi lao vào những chuyến đi rừng như một con bạc khát nước, đánh đổi cả những năm tháng sinh viên vùng biển, những sân trường áo trắng học trò, những cơn sốt rét rừng, những trò đổi chác để, nhanh đến không ngờ, được cả một lúc: tiền tài, địa vị, danh vọng trong niềm hãnh tiến...

   -"Khi nào thì con rảnh?"-Má nhẹ nhàng hỏi tôi, giữa se sắt một chiều giáp tết.

   -"Có thể chiều mai, nghen má, mình chạp mả ông ngoại rồi về thăm cậu mợ Năm. Lâu lắm rồi...- Giọng tôi trượt nhoè trong cơn say...

                                                            *

                                                          *   *

   Tôi lạc vào một khu rừng hoang lấp xấp mưa, ngổn ngang những thân cổ thụ còn tươi rói những vết rìu, lằn cưa, như những pho tượng cụt đầu. Bàn chân tôi lún sâu vào lớp đất nhão nhoẹt, lầy nhầy những giun và xác thối rữa của những con nai, con sóc, con chồn. Tôi cố lê những bước chân bết bùn, vạch tìm lối ra. Một vùng thâm u huyền bí đã bắt đầu sẫm tối. Tôi muốn bay vào khoảng trời đục nhờ nhờ trên cao, lối thoát duy nhất lúc này, nhưng toàn thân tôi nặng trĩu, tím tái. Bất chợt tôi gào lên. Tiếng của tôi bỗng dại đi như tiếng sói tru giữa một đêm trăng, tôi nghe được trong một lần đi rừng. Tôi cởi tung chiếc áo vét đang mặc trên người, huơ mấy vòng trên đầu, rồi vụt mạnh vào khoảng dây nhợ lùng nhùng trước mặt. Trong làn nước mờ mờ kia tôi còn kịp thấy chiếc áo vét vụt hoá thành chiếc áo tơi trên cánh đồng ngày nào của ngoại tôi, kết bằng lá chằm nón, đã te tua rách, vắt vẻo dính vào một mạng nhện khổng lồ chằng chịt dây rừng. Trời sập tối. Tôi chới với giữa rừng hoang đại ngàn, nơi mà tiền bạc, địa vị, quyền lực lúc này đều trở nên vô nghĩa.

   Hình như có đốm lửa. Đốm lửa nhỏ nhoi giữa trập trùng lưới nước bủa vây. Bì bọp. Ròng ròng. Tôi lê từng bước một như kẻ mộng du trong rừng thẳm, đi về phía có đốm lửa ấy và mơ hồ nhận ra một nếp nhà tranh trống huơ hoắc, nhưng quen thuộc lắm. Nhà ngoại tôi đây sao?. Trong mưa gió bã bời, tôi lại nghe tiếng những chùm ổi xanh,những trái xoài non đầu vườn lau nhau rụng vào cái lu vỡ, trong đó có cái gáo dừa đã trơn thẫm màu rêu; có tiếng mõ, tiếng chuông đâu đó của ngoại tôi lọ mọ trong chiều. Tôi đổ xuống trước sân ngôi nhà hoang như một cây thịt ướt. Trời vẫn sẫm mưa. Mà tôi lại khát. Khát quá! Tôi vục đầu vào vũng nước đen ngòm và uống ừng ực. Hình như có tiếng suối trong veo, róc rách chảy thấm vào tận gan ruột tôi, tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền lay lắt bến sông xa. Tôi nặng trĩu bước vào ngôi nhà và định thần nhìn kĩ lại. Vẫn trống huơ hoắc. Một chiếc chõng tre. Một ngọn đèn hạt đỗ. Hết. Đúng là nhà ngoại tôi đây rồi. Mái tranh sũng nước. Mảnh vườn xoài ổi xác xơ. Cái sân ngày nào ngoại tôi phơi lúa, còn anh em chúng tôi quần nhau luyện võ.

   Tôi với tay, cầm chiếc đèn hạt đỗ và rà soi vào những khoảng tối có thể. Chợt mắt tôi loá lên. Gì kia? ồ, vàng, toàn là vàng! Bốn bức tường bằng đất sét nhào quệt với rơm rạ ngày nào giờ đã được dát vàng. Tôi không tin được vào mắt mình nữa. Một mái nhà tranh với bốn bức tường vàng! Tôi phỗng ra như tượng. Chiếc đèn rơi xoảng xuống nền gạch và cháy bùng lên thành ngọn lửa trắng có hình một ngọn lau trên đồi hoang thuở nào. Ngọn lửa trắng ấy bỗng tách thành nhiều ngọn lửa khác. Rồi như có bàn tay vô hình nào đó ném chúng về phía tôi. áo tôi bén lửa. Tôi vùng chạy ra ngoài. Cả ngôi nhà bùng lên như một bó-đuốc-lau-trắng khổng lồ. Tôi ngã chúi vào một vòi nước đang chảy ròng ròng từ một ống tre. Nước bắn tung toé trên mặt. Mát. Mát quá. Mưa đã cứu rỗi tôi. Mưa đã dập xoá cho tôi. Mưa đã hồi sinh cho tôi. Tôi ngửa cổ uống. Và hình như lại có tiếng suối trong veo, róc rách chảy thấm vào tận gan ruột tôi, tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền lay lắt bến sông xa. Rồi trong tiếng nước kia tôi lại thấy cậu Năm tôi mặc bộ bà ba màu trắng đục, đôi mắt sáng như hai vầng trăng rằm, đang tắm cho tôi bằng chiếc gàu dừa vừa vục xuống đáy giếng thơi.

   Bỗng cậu Năm lừ mắt nhìn tôi. Đôi mắt vằng vặc trăng rằm kia bỗng chốc biến thành hai mặt trời lửa, đỏ như màu máu. Rồi toàn thân cậu run lên, teo tóp dần, lả xuống, hoá thành chùm hoa dại mà cậu bé chăn bò đã nhổ tặng tôi ở nghĩa địa Xóm Đông kia. Trời vẫn mưa như trút. Trong mưa, ngôi nhà vẫn rừng rực cháy, một thứ ánh sáng trắng huyền ảo, một bó-đuốc-lau-trắng khổng lồ. Bốn bức tường dát vàng kia đã bắt đầu chảy dẻo ra như sáp của một ngọn nến vàng, lộ ra những vách đất ngày nào được trát bằng đất sét và rơm rạ.

   Rồi trong khoảng sáng tối nhờ nhờ ấy, bỗng chốc chùm hoa dại oặt mềm kia vụt tươi tắn lại, lớn dần lên, cao bằng thân người. Những cánh hoa đỏ như màu máu chầm chậm mở ra. Như một con quái vật, những cánh hoa như những cánh tay tua tủa lông lá khập khững tiến về phía tôi.

   -"Ngươi là ai? Ngươi là ai?"- Tôi vừa giật lùi, vừa gào lên.

   -"Ha ha!... Ta là Hoa Hãnh Tiến!... Hoa Hãnh Tiến là ta!... Ha ha!..."-Tôi giật bắn người, bàng hoàng. Hình như tiếng tôi đấy, thăm thẳm tự ngàn xưa trong veo vọng lại. Rồi trong gió, trong mưa, trước bó-đuốc-lau-trắng khổng lồ kia, tôi chợt nghe có tiếng rít của những cánh cửa sắt, tiếng thở phì phò ngầu đục từ những cột ống khói cao ngất trời, tiếng gào rú của những chiếc xe máy, tiếng chua ngoa của những người đàn bà chửi nhau, tiếng rao đêm trên hè phố, tiếng loảng xoảng của những đồng tiền vàng...

   -"Ha ha!... Ta là Hoa Hãnh Tiến!... Hoa Hãnh Tiến là ta!... Ha ha!..."- Trong đêm thâm sơn cùng cốc này, tôi lại nghe vọng về tiếng gàu sòng vục nước những đêm trăng, tiếng sáo diều vi vu trên những đồi hoang, tiếng bò bê xa vắng, tiếng võng kẽo kẹt, tiếng ngoại tôi ru hời, tiếng cậu tôi cười đã đời trong những đêm hát tuồng trăng vằng vặc sáng...

   Mười cánh hoa dại như mười ngón tay đỏ như màu máu kia bỗng vươn ra quấn vào cổ tôi như mười vòi bạch tuộc. Tôi giãy giụa trong tuyệt vọng, oặt người như con thỏ rừng trong tay người thợ săn tua tủa lông lá. Và trong bước đường cùng ấy, tôi gom hết hơi tàn lực kiệt hét lên: "Hoa...Hãnh...Tiến...! ".

*

*    *

   Tôi choàng tỉnh.Toàn thân đau nhức, rã rời. Người dơm dớp mồ hôi, hâm hấp sốt. Đồ quỷ! Tôi buột miệng chửi đổng, loạng choạng đứng lên trong đêm, rồi đổ phục xuống như một cây thịt. Khó thở quá! Ngực tôi nhói lên. Đồ quỷ!Tôi chợt nhận ra nguyên nhân và điên tiết tháo chiếc cà-vạt như chiếc thòng lọng kia, vung tay định vụt vào khoảng đêm vắng lặng trước sân nhà ngoại...

   -"Cứu!...Cứu!...Có người chết đuối!...Bớ làng xóm!..." - Tiếng ai đó gào lên thảng thốt. Mấy bóng người vút qua mặt tôi. Tiếng chân chạy rầm rập. Có ai đó ngã dúi dùi. Tiếng dây nhợ sột soạt. Tiếng gậy tre va lanh canh. Tiếng mõ gấp rút. Tôi đảo người, vụt theo dòng người đang lúp xúp chạy về phía bờ sông, dưới mảnh trăng hạ huyền.

   -"Trời ơi!...Cậu Năm!..." - Giọng tôi nghẹn ngào.

   Dưới ánh trăng mờ mờ, bên ngọn đuốc hiu hắt kia, tôi thấy cậu Năm tôi đầu trọc lóc, mặt mày tím tái, mềm nhũn như xác một con nai, con sóc, con chồn vừa trong giấc mơ kia. Và, bằng kinh nghiệm của những năm tháng trong rừng sâu nước độc ngày nào, tôi biết rằng cậu năm tôi đã ra đi, đi thật xa, đi thật nhẹ nhàng, không hờn trách ai. Tôi chợt khóc rống lên khi hiểu ra nỗi cô quạnh từ bao nhiêu năm nay mà cậu tôi đã cam vận vào người. Phải. Cậu Năm tôi đã mù. Gần ba năm nay hầu như cậu mất cả trí nhớ. Mợ Năm tôi cũng gần như thế, ba phần ngày bảy phần đêm. Mảnh vườn còn lại sau nhà, giờ con cháu chia năm chia bảy, lợp ngói ra ở riêng cả rồi. Thi thoảng con cháu lại chạy qua. Người thì mớm cho ba má mình muỗng cơm. Đứa thì đút cho ông nội bà ngoại nó lát xoài chín. Một thạp gạo đã quá lâu ngày, một hũ cá muối, mấy bó tỏi hành treo trên xó bếp, một ít rau dưa góc vườn, đó là những gì gọi là lương thực dự trữ cho hai tấm thân còm cõi, ngày đêm thui thủi trong căn nhà tranh trống huơ hoắc kia.

   Khi tôi gạt nước mắt thì mọi người mới oà lên khóc. Những giọt nước mắt chắt ra từ đáy những lòng thành, nhưng cái cội nguồn kia đã dần khô kiệt trong lãng quên. Nước mắt chảy xuôi mà con!-Má tôi thường bảo thế. Hình như không ai còn thấy tôi đang quỳ sụp xuống bên cậu Năm tôi và lặng lẽ vuốt mặt người. Tôi nắn, vuốt, xếp lại thân hình tái nhũn của cậu. Chiếc cà-vạt trong tay tôi vẫn còn đó. Và hình như vẫn không ai thấy tôi đang lặng lẽ quàng chiếc cà-vạt kia thắt vào cổ áo người. Ngoài kia vẫn mảnh trăng hạ huyền mờ ảo. Bên trong ngôi nhà bao năm hiu quạnh kia, giờ lại ấm hơi người. Đuốc lửa vẫn lép bép cháy, soi tỏ từng khuôn mặt người, thành kính và nhàu nát.

   Mọi người đã bắt đầu hồi tâm và đi tìm đèn thắp sáng. Lại ngọn đèn hạt đỗ nhỏ nhoi hiu quạnh như vừa trong mơ tôi. Tôi lùi lại và tránh sang một bên để cho mọi người bắt đầu làm những công việc quen thuộc khi chuẩn bị đưa tiễn một người thân ra đi vào miền miên viễn. Một cảm giác trống vắng, hụt hẫng bao trùm lấy tôi. Bây giờ tôi mới biết rằng mình đang khát nước lắm. Tôi quờ tay tìm ly nước và tình cờ chạm phải chùm hoa dại ban chiều. Thảng thốt, tôi rụt tay lại. Giấc mơ kia chắc sẽ còn theo tôi suốt quãng đời còn lại. Và trong tiếng khóc của mọi người, mơ hồ tôi thấy cậu Năm tôi đã cắm chùm hoa dại vào ly nước này. Trước đuốc lửa, trước ngọn đèn hạt đỗ, chùm hoa dại tươi hẳn lên, đặc biệt là những cánh hoa. Hoa nào cũng chỉ có mười cánh, đỏ như màu máu. Có nụ hàm tiếu, như hai bàn tay chắp lại, nguyện cầu. Có hoa đã nở, như hai bàn tay mở xoè, thành đạt và rạng rỡ. Hoa không thơm mà ngai ngái mùi đất bùn, mùi rạ rơm, mùi cỏ dại.

   Và trong thăm thẳm nỗi buồn kia, tôi biết, trên thế gian này còn có một loài hoa dại mà tôi sẽ không biết nó bao giờ nếu chiều nay tôi không về lại quê ngoại, sau nhiều năm lần khất.

   Loài hoa dại ấy trong mơ tôi có tên là Hoa Hãnh Tiến.

 

                                                                                                   H Đ

 

 


Giấc mộng tuồng

 

                                                                                                            Truyện ngắn

 

 

   Ông Khậc bật cười, một mình trong phòng hóa trang. Ít khi thấy ông cười, mặc dù ông đã từng làm cho nhiều khán giả cười đến són đái. Đêm nay vai tuồng của ông xong sớm hơn mọi khi. Ông vào đến ba vai rồi mà vẫn phải chùi mặt trước các bạn diễn. Vai thứ nhất, là một thằng lính lệ, gác cổng thế quái nào để cho một con mụ giả điên qua ải trót lọt mà không hay biết. Thế là toi ngay một mạng. Vai thứ hai, là một ông từ giữ đền. Giữ đền mà bị câm tịt, chỉ biết ú ớ chỉ chỏ trước mọi việc. Đúng là lừ đừ như từ vào đền. Lừ đừ cộng với ú ớ, thành ra bị một thằng tướng cướp giết oan. Thế là đi đứt mạng thứ hai. Vai thứ ba, là một võ tướng hàm bạnh râu hùm, oai phong lẫm liệt, cương trực nức tiếng một vùng nhưng tính khí nóng nảy, phải thọ án trảm bá đao sau nhiều lần nhà vua nghiêng tai nghe một quan văn mặt trắng thẽ thọt.

   Ông Khậc tự cười, không phải vì vui, mà vì chuyện lạ. Quái, cái chấm đen bằng lọ nồi ngay giữa trán của ông mãi vẫn không sao chùi hết được. Nó cứ méo mó dẹo dọ dưới ngón tay đã được quấn miếng vải và tẩm dầu phụng của ông. Nó chỉ phai dần, từ màu đen xuống màu chàm, rồi ì ra đấy.

   Giờ thì ông Khậc không cười được nữa. Ông lại chấm ngón tay đã được quấn vải vào chén dầu phụng rồi dí vào vết chàm, day day. Vết chàm lại méo mó dẹo dọ, rồi đâu lại vào đấy. Nó vẫn trơ lì, không chịu tan đi, nửa như nuối tiếc cái vết tích cuối cùng của vị võ tướng kia một thời oanh liệt, nửa như muốn thoát ra khỏi khuôn mặt dúm dọ vết chân chim của ông mà đêm nào nó cũng được tạo ra trên đó.

   “ Kệ cha mầy! ”- Ông khẽ buột miệng, đứng dậy. Trông khuôn mặt của ông bây giờ cứ giống như một người Ấn Độ, hay người vùng Nam Á gì đó có cái nốt chàm ngay giữa trán. Thì có sao đâu. Có đêm tuồng giã quá khuya, ông còn không kip  chùi mặt mà đạp xe một mạch về nhà, khiến bà Lược vợ ông tá hỏa la lên như gặp phải quỷ.

   - Một cuốn, chị ba!

   - Một thôi à, chuối chát không?

   - Ừm, nửa xị thôi, dạo này ế quá!

   - Ờ, bánh đây chú bốn. Coi mặt ổng kìa tụi bay!...

   Xong cuốn bánh tráng. Rượu cũng xong. Ông Khậc móc túi lấy ra mảnh gương nhỏ soi lại mặt mình. Nốt chàm vẫn còn đó. Bỗng dưng đêm nay ông chưa muốn về nhà. Một ly nữa chị ba. Ông buồn. Rạp Sao Mai hôm nay đúng là vắng khách thật, mặc dù đầu hôm, cái loa sắt trước cửa rạp đã xuống sề cải lương mùi hết cỡ. Ông liếc vào trong rạp. Lũ con nít nhốn nháo một hồi, giờ biến đâu hết cả. Đám thanh niên thì, rạp Sao Mai chỉ là cái cớ. Một vài cặp đang học đòi, quấn lấy nhau cuối rạp. Và trong khoảng tranh tối tranh sáng của ánh đèn sân khấu kia ông còn kịp nhận ra vài chục ông già bà lão bám trụ, kẻ thì thụp đánh trống, người khúc khắc nghe chầu…

*

*  *

   Những ngày đầu. Ông Khậc đứng ra kêu gọi bạn hát của ông tập hợp lại dưới mái

một Nhà hát tuồng tận trên tỉnh. Đông vui lắm, có già, có trẻ, bài bản, ổn định. Nhưng khổ nỗi, ông lại chưa quen với cái kiểu phải “ăn cơm tập thể, ngủ giường cá nhân”, xa vợ xa con hàng tháng trời như thế này. Vả lại, tuồng tích bây giờ mới quá, hát không quen, mặc dù ông đã ráng hết sức để hòa nhập.

   Ông xin về. Rồi những bạn hát cùng thời với ông cũng lần lượt xin về. Tre già măng mọc mà, lo gì. Vẫn có đấy. Có những đứa vai con vai cháu của ông thôi, trúng tuyển vào Nhà hát tuồng bằng chất giọng trời cho và bộ tịch nghe chừng cũng được lắm. Nhưng cũng có đấy. Có những đứa thấy làm nông vất vả quá, muốn đổi đời, dù không muốn “hát bội làm tội người ta” lắm nhưng cứ thi đại, may sao lại trúng, mà trúng rồi thì theo, kiếm miếng cơm cái đã, tính sau.

   Về nhà nằm mãi cũng buồn, ông Khậc quyết định đứng ra kêu gọi lại mấy bạn hát kia, kẻ còn người mất, mượn đất, xoay vốn, xin dựng lại rạp Sao Mai. Ông thuyết phục mãi, rồi mọi người cũng nghe theo. Thế là Con quạ xé lá lợp nhà/ Con cu chẻ lạt, con gà đưa tranh. Câu ca dao ở đâu, giờ nghe mà thấm thía. Rạp Sao Mai lại tượng hình. Rồi đêm nào cũng tùng tùng cắc cắc diễn lại tuồng xưa tích cũ, bất kể nắng mưa, được đồng nào hay đồng ấy…                                                                   

*

*  *

   - Nè con mụ kia, giỏi thật, mày giả điên hả?

   - Ai bảo mầy ngu!

   - Tao ngu?

   - Ừ, thì ngu, ngu mới không biết tao giả điên. Con điên lừa được thằng ngu/ Những thằng như thế cắt cu cho rồi, há há! há há!

   - Im! Đừng lẻo mép, tao cắt khẩu bây giờ!

   - Đứa nào đòi cắt khẩu ông nữa đấy?

   - A! Ông từ, ông từ biết nói rồi! Ông từ mà biết nói năng/ Thì ông thổ địa hàm răng chẳng còn, ứ…hự!

   - Ha ha! Hóa ra lâu nay bọn chúng tưởng ta câm, ha ha!

   - Hừm, đứa nào mà ồn ào làm vậy, có biết ta đang luyện võ không?

   - Gớm, quan văn nó mới hót với vua một cái mà đã bị bá đao, võ cái con c...Sa trường (ứ) quân thù khiếp đảm/ Lai đáo (hề) bị trảm bá đao, ư…ứ…ư!...

   Ơ, ta đang ở đâu đây? Ông Khậc loạng choạng đứng lên rồi ngã chúi vào một khoảng lờ mờ trắng ở phía trước. Bớ!...Hình như ông đang định bắt một câu tuồng? Không phải, ông đang tìm cách gọi ai đó mà môi răng cứng ngắt, không ra được một lời. Ông lơ mơ tỉnh. Có gì vừa đùng đục sáng. Hay là ánh đèn sân khấu? Không phải. Trăng. Trăng đẹp quá. Một mảnh trăng hạ huyền. Ít khi nào ông được nhìn trăng cho đã, vì những lúc ấy ông còn trên sân khấu. Bây giờ thì không phải trên sân khấu, mà trên một vạt ruộng bì bọp bùn. Ông gắng gượng đứng dậy. Đầu nhức như búa bổ. Đúng rồi, ông vừa bị ngã xuống đây, trên đường đạp xe về nhà và đã ngất đi một lúc thì phải. Và có lẽ giấc mộng tuồng lắp ghép ngổn ngang kia đã kéo ông trở lại.

   - Mình đó hở mình? Kìa ông, ông ơi, sao thế này?

   - Không, không sao đâu bà, ối!...

   Trước tấm gương của chiếc tủ gỗ cà tàng, bên ngọn đèn hột vịt của bà Lược, ông chỉ còn kịp thấy từ nốt chàm giữa trán kia vọt ra một thứ nước gì đen đen deo dẻo như nước người ta nấu hắc ín để rải đường; rồi cái không gian vàng vọt từ ngọn đèn kia bỗng chốc chuyển sang màu chàm, rồi màu đen, màu đen ấy từ từ dâng lên ngập chân ông, bụng ông, cổ ông, mắt ông…

*

*  *

   Người đóng vai thân phụ của Diệm Thiên Hùng vuốt râu cười ha hả rồi bất ngờ vụt một đường đao sắc ngọt về phía ông. Trong vai võ tướng Diệm Thiên Hùng, ông búng người lộn một vòng trên không trung né đường đao rồi nhẹ nhàng đáp xuống chiếc bàn gỗ. Tùng! tùng! tùng! Tiếng trống chầu dồn dập. Hay thiệt, đã quá! Tiếng vỗ tay nối theo rào rào. Ai đó hắt cả khay que thưởng lên sân khấu. Vài thằng nhóc con từ trong cánh gà lồm cồm bò ra nhặt. Chắc là con cháu của mấy ổng, được phân công. Vút! Lão thân phụ kia lại soạt một đường đao nữa về phía chiếc bàn gỗ. Mầy tránh đâu cho khỏi tay cái lão già này, bớ Thiên Hùng ơi! Giờ thì Diệm Thiên Hùng đã thực sự hoảng hốt, nhưng cũng còn kịp đảo người búng vọt xuống sàn. Tùng! tùng! tùng! Lại dồn dập tiếng trống chầu. Hoan hô ông Khậc! Đã quá ông Khậc ơi! Lại rào rào tiếng vỗ tay. Rồi trong khay que thưởng kia, Diệm Thiên Hùng còn kịp thấy có cả mấy đồng bạc giấy vo tròn. Diệm Thiên Hùng liếc xéo về phía cha, rồi bỗng dưng quỳ mọp xuống mà lạy, lạy lấy lạy để. Điều này thì chưa từng có trong kịch bản nhưng mấy đồng bạc giấy kia thì chắc chắn đã được kẹp vào hai ngón tay của Diệm Thiên Hùng. Cha chả, cha chả, giỏi hầy, giỏi hầy, mầy có còn tránh được đao của cha mầy nữa không đây, bớ cái thằng Hùng kia! Diệm Thiên Hùng là một võ tướng, nhưng không lo phò vua mà đi làm chuyện bậy bạ. Làm tôi mà không trung quân, thì phải xử. Hậu tuồng khi nào chả thế. Có điều, tuồng này nó hay ở chỗ, người xử bá đao Diệm Thiên Hùng không phải là vua mà lại chính là thân phụ của hắn. Bà con thì khoái cái đoạn tuồng này cực kì, đặc biệt là mấy màn nhào lộn tuyệt kỹ của ông Khậc. Vai này thì chỉ độc có ông đóng thôi, khó mà ai qua mặt được. Vút! Vút! Vút! Đao nối tiếp đao. Diệm Thiên Hùng lại bật người như con sóc. Rồi trong thế chẳng đặng đừng, hắn bắt đầu bay lên, bay lên cao mãi, bay khỏi sân khấu, bay khỏi cánh gà, bay vào miền trăng mười sáu, nơi đó có gió, có mùi hương lúa, có tiếng cào cào, nhưng không có những đường đao khiếp vía và những tiếng hò reo bất tận dưới kia. Rồi bỗng như một người nhảy dù bị quấn dây trong gió, Diệm Thiên Hùng bất ngờ chới với giữa miền trăng, rồi bắt đầu rơi , rơi, rơi mãi vào một khoảng đùng đục sáng, vô hình, vô định…

*

*  *

   Ông Khậc đạp tung chiếc mền, đôi tay như đang níu kéo vô vọng vào khoảng không. Rồi cả người ông mềm rũ ra, lớp nhớp mồ hôi. Ôi, lại một giấc mộng tuồng. Những giấc mộng tuồng lắp ghép ngổn ngang cứ dai dẳng bám vào đời ông như  một định mệnh mong manh  và oan nghiệt. Người ông ngây ngấy sốt. Đầu óc như sắp bị nổ tung. Ông nằm liệt đã hơn chục ngày rồi, từ cái đêm ngã chúi bên bờ ruộng rồi về ngất xỉu trước tấm gương kia. Bà Lược đâu rồi, chắc là vừa chạy qua bên hàng xóm. Mấy đứa con ông đi làm ăn xa, hay tin ba bị nạn vội vã thu xếp công việc để về với ông. Tội nghiệp, đứa nào cũng khóc sưng húp con mắt. Nhưng có mà khóc mãi được đâu. Cơ quan gọi, khách hàng gọi, trường học gọi và có đứa, cả con nợ gọi. Thế là chúng phải quay về. Đứa dúi vào tay má vài chục. Đứa lận vào túi ba vài trăm. Rồi tất cả quệt nước mắt, ra đi, đi hết cả, từ lúc mờ sáng.

   Ông dùng hai ngón tay day day vào hai bên thái dương. Vẫn không hết nhức đầu. Bà con trong xóm bảo ông chịu khó đi bệnh viện. Ông xua tay. Chắc chỉ vài hôm  thôi mà. Cứ đổi tuồng khác mà diễn đi nhá, tuồng Diệm Thiên Hùng chờ tui đỡ đỡ cái đã, vậy nghen. Bàn tay ông lần về phía trán. Cái gì đây? Bất chợt ông run lên. Ông nghiêng người soi vào tấm gương: một cục thịt lầy nhầy như một lát lạp xưởng không biết từ lúc nào ló ra chình ình ngay giữa trán, nơi có cái nốt chàm kia. Đúng lúc ấy bà Lược cũng kịp về đến nhà, la toáng lên rồi quỵ xuống. Hàng xóm ập đến…

*

*  *

   Rồi ông cõng bà Lược đi xem hội. Chui cha, cái trích đoạn tuồng này cũng hay thiệt chớ phải chơi! Mà bà Lược dạo này bỗng dưng múp míp như gái lầu xanh vậy đó. Tránh ra, tránh ra cho lão đi xem hội với nào. Ông già ốm nhách ốm nheo/ Cõng bà vợ mập chống chèo qua truông. Tiếng đế ở đâu đó của đám con nít. Vợ ta ta cõng/ Chớ cõng vợ ai/ Đứa nào nói sai/ Thiên Lôi bảy búa ứ ư, há há!...

   Ủa, Diệm Thiên Hùng, cớ sao mà con ra nông nỗi này Hùng ơi! Một ông lão râu tóc bạc phơ, còn già hơn cả ông, vừa quệt nước mắt nước mũi vào ống quần, vừa tru tréo lên như bị chó dại cắn. Ôi, cha, cha ơi, sao cha cũng ra nông nỗi này. Bà già thấy chuyện lạ, tuột khỏi lưng ông, xị mặt xuống. Thế rồi cả hai ông già, một già cha, một già con, cứ ôm chầm lấy nhau mà khóc như nhà cháy. Già cha kể rằng: từ cái ngày ấy, trảm bá đao đứa con quái tử của mình về ngậm ngùi ăn năn hối hận đến thổ huyết mấy lần, đêm nằm thương nhớ, trằn trọc thao thức, sáng ra tóc trắng rụm cả đầu. Già con kể rằng: khi cha đi rồi, nhờ có phép mầu của Phật Bà Quan Âm mà con được nối ráp lại hình hài và đầu thai trở lại chốn dương trần, nhưng để răn dạy đứa con hư đốn này, Phật Bà bắt sống kiếp đọa đày đến thân tàn ma dại thế này đây.Còn đây là ai?-Già cha hất hàm về phía bà già đang ngồi xị mặt. Bà xã con đấy. Miệng thế gian lắm điêu ngoa. Con hát bội, nhưng nào có làm tội làm tình gì người ta. Bả mê tuồng, thích con đóng vai Diệm Thiên Hùng lắm, nên mê con rồi lấy con từ thuở còn son đấy, không có ai phải bỏ vợ bỏ con cả.Bà già đi lấy ông già/ Lấy nhầm hát bội khổ cha một đời. Lại tiếng đế đâu đó của đám con nít. Mẹ tụi bay, coi chừng ông, coi chừng ông!...Nhưng đám con nít đâu có chịu buông tha ông. Chúng túa ra dày đặc trên sân khấu. Toàn là lũ đi nhặt que thưởng cho ông chớ có phải ai xa lạ gì cho cam. Rồi đứa thì túm tóc ông, đứa giật râu, đứa tuột quần, đứa cầm roi ngựa trót vào đít ông. Ông chỉ kịp bái biệt cha mình rồi xốc nách bà Lược, quáng quàng bỏ chạy lòng vòng trên sân khấu. Lũ con nít lại rồng rắn đuổi theo. Người chạy cứ chạy. Người đuổi cứ đuổi. Cái vòng- tròn- người  trên sân khấu kia cứ chạy- đuổi bất tận, bất tận. Rồi ông cũng đã bắt đầu thấy sức tàn lực kiệt. Ông quỵ xuống. Không, ông lại đứng lên, xốc nách bà Lược, rồi cả hai người từ từ bay, bay lên, bay lên cao mãi, bay khỏi sân khấu, bay khỏi cánh gà, bay vào miền trăng mười sáu, nơi đó có gió, có mùi hương lúa, có tiếng cào cào, nhưng không có tiếng đế tinh quái để đời của đám con nít dưới kia. Bà già đi lấy ông già/ Lấy nhầm hát bội khổ cha một đời ê ê!... ê ê!...

   Ôi, lại một giấc mộng tuồng!...

                                                        *

                                                      *  *

   Đám tang ông Khậc gặp phải một ngày mưa não nùng. Khổ thân ông Khậc. Tiễn ông, có cả một ban nhạc hiếu mà nhạc công chính là những người đêm nào cũng dạo cho ông hát trên sân khấu. Tiễn ông, có cả những người mặc nguyên cả hoàng bào, để nguyên cả khuôn mặt anh hùng, tướng cướp, gái dại, từ câm. Tiễn ông, còn có cả lũ con nít chuyên đi nhặt que thưởng kia. Và tiễn ông, tất nhiên không thể không có bà Lược, người theo ông chưa trọn một quãng tuồng.

   Và thế là ông Khậc ra đi, đi thật nhẹ nhàng, đi về nơi xa lắm. Ở đó không có những giấc mộng tuồng ./.

 

                                                                                                                                                                              H.Đ

 

 


Viết tiếp bài thơ Con cóc

 

     

          Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra

          Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó

          Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi

 

          Con cóc trong hang, con cóc không nhảy ra

          Con cóc không nhảy ra, con cóc ngồi đó

          Con cóc ngồi đó, con cóc không nhảy đi

 

          Con cóc không trong hang, con cóc nhảy ra

          Con cóc nhảy ra, con cóc không ngồi đó

          Con cóc không ngồi đó, con cóc nhảy đi

 

          Con cóc không trong hang, con cóc không nhảy ra

          Con cóc không nhảy ra, con cóc không ngồi đó

          Con cóc không ngồi đó, con cóc không nhảy đi.

 

 


Bão giá

 

                                                 (2008)

 

          Bồi một đạp

          Anh xe ôm ngã quay lơ

          Rồi lồm cồm bò dậy

          Tay quờ tìm can xăng rỗng

          Vèo xe đi trước giờ tăng thêm 1.500 đồng / lít

 

          Bồi hai đạp

          Chị con buôn lộn nhào

          Rồi ngơ ngác đứng lên

          Tay nọ quờ tay kia

          Sợ rơi chiếc nhẫn cưới

          Sáng nay vàng đạt ngưỡng 1.800.000 đồng / chỉ

 

          Bồi ba đạp

          Ông nông dân chúi mũi xuống bùn

          Loay hoay mãi vẫn không thoát ra được

          Những vuông ruộng tù đày

          Những vuông ruộng đẹp lên từ những câu thơ

          Chiều nay phân lại nhích lên một giá

 

          Bão

                   và giá

                                 và bão giá

 

          Giá áo tăng lên

          Giá quần cũng tăng lên

          Rồi gần như tất thảy

          Cùng nô nức tăng lên

          Chỉ có cái điểm chứng khoán gỉ gỉ gì gì kia

          Và cái mồng tơi

          Là rớt xuống                    

 

         Bão

                   và giá

                                và bão giá

 

          Ai sắp trúng cử Tổng thống Hoa Kỳ

          Mấy ai biết

          Oscar năm nay nước nào được giải

          Mấy ai biết

          Klitschko có làm cho Ibragimov nốc-ao không

          Mấy ai biết

          Chelsea Arsenal thế nào

          Mấy ai biết                    


 

         Bão

                  và giá

                               và bão giá

          Một đạp

                          hai đạp

                                        và ba đạp…

 

                                          

 


Nghĩ

 


          Lẽ ra phải chặt hết những cây vườn héo quắt kia

          cả cành lẫn rễ cả hoa lẫn củ

          gom và đốt

          để trồng lại một vườn cây khác

          nhưng rồi ông tôi lại tiếc


          Lẽ ra đừng sắm cái vai tuồng này

          bạc lắm bội ơi

          mà mắc tội khi quân thì phải biết

          nhưng rồi ba tôi lại tiếc


          Lẽ ra phải vứt hết mọi thứ trong cái tủ lạnh ấy

          những quả chanh ôi những miếng thịt thừa

          chút sữa bò trong cái lon thiếc

          nhưng rồi tôi lại tiếc


          Đêm cơn mơ gào

          gió thốc cây vườn ngã rạp đè lên ông tôi

          ông từ lừ đừ vào đền xô ba tôi chúi mũi

          rồi những quả chanh ôi

          hóa viên đạn thần công nã bùm bùm vào óc tôi

          những miếng thịt thừa

          hóa con bò rừng húc tì tì vào da thịt tôi

          và chút sữa cặn kia

          hóa cơn lũ đục ngầu cuốn tôi trôi xa mãi


          Rồi cũng trong giấc mơ ấy

          tôi thấy

          buổi chiều ấy đã khác

          dốc phố ấy đã khác

          con đường ấy đã khác.

 

 


Ngậm ngùi nay

 

                       Nắng chia nửa bãi chiều rồi...

                                (Huy Cận)

 

          Nắng chia nửa bãi

          nửa bãi mưa nhòe

          vườn hoang trinh nữ đi về 

          véo von

 

          Tơ rách

          Nhện rơi 1 con

          99 con chim mộng hết hồn

          hót ran

 

          Thùy dương chết đứng

          hóa con hạc vàng

          hạc vàng mất ngủ

          ngổn ngang gió lùa

 

          Thương đau chín rụng mấy mùa

          100 trái cấm bỏ bùa cho sư.

 

                                    1990

 

 

 


Viết

 

          Bỗng dưng thấy người rỗng không chẳng biết vì sao

          Bỗng dưng thấy người đặc quánh chả biết thể nào

 

          Chuồn chuồn lúc thấp lúc cao đường xa hun hút

          Con vượn đu cành cộc lộn nhào

 

          Quyết xé đôi câu vớ va vớ vẩn

          Khi lòng không động ta thì nghỉ thôi

 

          Câu ta chưa viết người ta đọc rồi

          Giấy trắng phập phồng bút mòn lực kiệt

 

          Con chim xanh xanh hót gì ai biết

          Dế giun phận cỏ kêu gì ai hay

 

          Tôi như người nợ chưa trả đã vay

          Đi giữa ban ngày tìm ba điều ước

 

          Hay là nhảy ùm tắm một dòng nước

          Hay là bảy bước đi vào lãng quên.

 

 


Nợ

 

                                     Nghe tin:  Nợ công của VN

                                                  đã lên đến 50 tỉ USD,

                                                  nhớ bài thơ cũ này.

 

          Chỉ có tiếng xạc xào của lá

          Và bầu trời thiu ngủ những vì sao

          Ta đứng lặng dưới đêm tàn mà nợ

          Những nguyên lành và những hư hao

 

          Ta nợ những giấc mơ chập chờn không hóa bướm

          Chiếc ngựa gầy lục lạc khản trong sương

          Sau đắm đuối của một lần trăng khuyết

          Ta nợ nhau thanh thản một đời người

 

          Không một lời tiễn đưa không một lời gửi lại

          Cây mùa kia trút lá đã lâu rồi

          Gió cứ thổi về miền xưa thổn thức

          Ta nợ dìu nhau đến tận chân trời

 

          Em là thế lao xao bóng nước

          Cuối cùng rồi ta nợ với nhau thôi

          Nợ khóc nợ cười nợ mưa nợ nắng

          Nợ gì đây chưa trả được ơi người.

 

                                                 1983

 


Tháng mười

 

          Một ít nắng

          Một ít mưa

          Và không gì nữa cả

 

          Em nhòa đến

          Như cúc đầu thu như sen cuối hạ

          Và con đường bần bật gió run lên

 

          Tôi vuốt nếp áo cũ

          Xé tờ lịch cũ

          So vai tìm mình sau mặt gương ký ức

          Ngoài kia là tháng mười

 

          Tôi nhẹ cửa

          Những ngả đường rần rật sẻ bay lên

 

          Tôi đi

          Cỏ hai bờ giấu mặt

          Sông giờ xanh ngắt

          Ai ném thia lia buồn

          Đò suông cát lẻ

          Ơi tháng mười

          Xa lắc đã về chưa

 

          Tôi về

          Gác trọ đong đưa

          Váng vất một tháng mười đâu đấy.

 

                                        Hà Nội, 10 / 1995

 


Dã quỳ và tôi

 

 

          Dại suốt mùa khô

          Dã quỳ vàng như một lời đã cũ

          Dã quỳ không hương như một điều có thể

          Đêm chợt về lấm tấm giấc mơ tôi

 

          Dã quỳ dại hay dã quỳ giả dại

          Mà dắt ai qua non thác gập ghềnh

          Buồn không dã quỳ khi trong mơ tôi gọi tên

          Những vàng cúc mùa thu xa ngái

 

          Nói một lời gì với dã quỳ đi chứ

          Kìa tôi ơi ngày đã luống chiều

          Hoa lầm bụi bên vai người lấm láp

          Con ong mùa tôi nhặt nhạnh được bao nhiêu

 

          Gió và gió và tôi chiều đẫm gió

          Gió đưa tôi về con dốc này

          Rồi gió níu tôi về với phố

          Giữa muôn sắc vàng biết tôi còn nhớ

          Nơi ấy dã quỳ vẫn dại suốt mùa khô.

 

                                           Chư Sê - Pleiku, 2001

 

 


Mười một giờ

 

          Từ trên tầng cao tôi xuống với đất

          Cái cặp công chức giờ đã dồi dào

          Cầu thang ngày nào cũng mười sáu bậc

          Đón đưa thường nhật là gốc sứ già

          Nhắc tháng ngày qua là cây phượng vĩ

 

          Con đường như thể con đường hôm qua

          Mặt người như thể gặp nhau bao giờ

          Phong lan vỉa hè bằng lăng chợt tím

          Gốc thông bịn rịn một đôi lơ ngơ

          Giữa bao xuôi ngược một tôi đi về

 

          Vòng vèo mấy phố nhà tôi đằng kia

          Vợ tôi trong bếp con tôi trước hè

          Không phố không quê nhà tôi ở đó

          Có cây trứng cá ngẩn ngơ mấy rằm

          Có cây hoa sữa vừa mới xanh mầm

          Có lan báo hỉ nở vào trăm năm.

 

                                                    2002

 

 


Không



   Có một ngày

   Ta rơi vào không ta rơi về không

   Không cơ quan không bạn bè không gia đình

   Không E-mail không đồng hồ không điện thoại

   Không xào xạc không bâng khuâng không diệu vợi

   Không ngăn ngắt mùa xanh không rét tím bên hồ

   Không con đường nào không góc phố nào không cánh rừng nào

   Mây trắng về không sóng biển về không núi xám về không

   Không đôi tai không làn da không mũi hếch

   Không chiếc lưỡi lừa không con mắt khóc

   Không mặt trời vui không mảnh trăng buồn

   Không cội nào cho hoa rụng

   Không bến nào cho thuyền ngơi

   Không mùa đông nào cho đàn chim di trú

   Không tầng không nào cho chuông trôi

   Không không không

   Ta cất tiếng không lời

   Không không không

   Ta nhè nhẹ xa đời...



85 năm Bùi Giáng

 

 

              Ngửa lên trời thốt ha ha

          Bao nhiêu miệng sói u oa gọi bầy

             Úp thân lên nhánh sông gầy

          Vỡ ra đâu đó một bầy trăng non

             Bước tràn trên đỉnh chon von

          Sa chân rớt xuống nghìn con sóng trào

 

             Gặp tiều bước thấp bước cao

          Gặp con vượn cũ hao hao giống mình

             Gặp em tàn tạ mà kinh

          Gặp quê quê bảo cũng bình thường thôi

             Gặp ma ma chỉ gặp người

          Gặp người người chỉ gặp tôi tìm tìm.

 

 


Những bức tường

 

 

 

          Rơi

          reo

          như lá chéo cuối mùa

          những bức tường trong giấc mơ ta

 

          Những bức tường hình bao diêm khi ta là dế cỏ

          những bức tường tàn canh như quân bài sấp ngửa

          những bức tường hình chữ nhật vàng những thỏi vàng

          những bức tường hình ô cửa những khoảng trời chết lặng

          những bức tường dẹt khô hình hài ta ngày ép xác

          những bức tường ám vào ta trong suốt

 

          Chuyện ngày xưa có cô gái xinh xinh

          mang giống hoa xa về trồng dưới chân tường

          nhưng dây leo xanh đã làm công việc của sợi chỉ

          và hoa đã nở phía bên kia

          không phải phía cô trồng

          phía bên kia bức tường

          cô gái tật nguyền gọi hoa là niềm cứu rỗi

          ngủ ngoan thôi em

          rồi những bức tường kia sẽ kết

          choàng lên em tấm lụa đá cuối mùa

 

          Ta men theo bức tường rêu hoàng hôn ngoài phủ chúa

          trước mặt trùng trùng sen muôn nước tọa ô kìa

          domino domino

          rùng rùng đổ những lâu đài trên cát

          piano piano

          giọt từng giọt đá hát

 

          Mệt nhoài ta tựa vào tường

          nghe một ban nhạc rock

          hát bài ca mang tên mình

          khóc bài ca mang tên mình

 

          Rơi

          reo

          như lá chéo cuối mùa

          những bức tường trong giấc mơ ta.

 

 

 


Hết Tết




 


                                                   (vui vui thơ)

 

          Hết tết

          Bì lì xì dốc ngược

          Hoa rã rượi bên mẹt bánh tét

          Vỏ hạt dưa vun đùn đỏ loét

          Tiếng ai đó ái chà

          Giờ đi làm thì chán chết


          Hết tết

          Con vện đầu hè lưỡi thè mõm ghếch

          Mấy ngày xương hào phóng cũng qua rồi

          Nhưng ta quyết không làm đồ chó chết


          Hết tết

          Xe ngật ngưỡng bò qua dốc Lếch

          Chị con buôn ngồi bệch

          Quệt mồ hôi tóc bết

          Vái lơ xe mồm méo xệch

          Thôi mà chú chỉ còn chừng này

          Thêm đi bà hết cái đếch

          Tiếng làu bàu trôi sau tiếng rít


          Hết tết

          Nghĩa là sắp cạn tháng giêng

          Cũng là lúc gầu sòng mắc cạn


          Hết tết

          Nghĩa là lúc sinh viên lại sắp tựu trường

          Cũng là lúc mẹ vai đồng gánh lệch


          Hết tết

          Ôi tháng giêng là tháng ăn chơi

          Ăn chơi cái con khẹt

          Mờ con mắt đây này


          Hết tết

          Dấu hai chấm lừng khừng

          Sau dấu chấm hết.



Tháng Chạp



 

         Xe ngựa thồ hoa kìn kìn lên phố

         Những chiếc bờm còn vương vất mùa đông

         Đêm qua lão xà ích không ngủ

                                            xách đèn ra vườn mai

         Nghe ngai ngái hăng nồng từ đất ẩm

         Giờ lỏng tay cương

              lão mộng du trong tiếng lục lạc khua ròn

         Người trên phố qua rồi còn ngoái lại

  

         Rác đùn lên từ các ngả

         Người quét đường lầm lũi đẩy xe sương

         Họ chỉ để lại những ánh mắt

         Và những cụ già đi bộ nhặt được

         Những ánh mắt khô

                                       nhu nhú nụ mai đào

  

         Chuông trôi lưng chừng sương

         Bầy dơi đập cánh

                       bay về phía những vạt đồi ngái ngủ

         Đã lúp xúp chợ ngả ba đường

         Dưới những chiếc nón

                             mang hình ngọn núi

                                             đã eo sèo lời ngã giá

         Những chiếc bắp cải

                                    nằm lăn lóc suốt đêm qua

         Sù sì như quả bóng trẻ con tự tạo

         Chúng vừa đá lên
                                     phía rựng đỏ chân trời. 





Giao mùa




 

          Mây trôi chậm qua cánh đồng ủ khói

          Châu chấu về lách tách dọc bờ sương


          Lá chạm nhau ở cuối con đường

          Cây mắc võng giữa hai đầu sáng tối


          Tiếng giun dế tắt dần sau cỏ rối

          Chuồn chuồn kim đi rút sợi rơm vàng


          Lưỡi cày mơ những mùa đất âm âm

          Chòm sao muộn trở đầu theo hướng gió


          Bầy cá đuôi vàng bầy chim má đỏ

          Tự đâu về cuống quýt một triền sông


          Viên bi lăn chầm chậm góc vườn

          Rúc trong cỏ thì thào mơ táo rụng


          Cô gái đường xa vội quàng đôi thúng

          Gánh nhịp nhàng về phía mặt trời lên.


Giêng hai



                             Riêng tặng bạn đọc DHCanTho
                              (bài thơ mới đó đã 25 năm)

 



          Mưa giêng hai chưa ướt tóc bao giờ

          Em đã hẹn, mùa này chim vắng lắm

          Hoa bưởi trắng, ơi hoa bưởi trắng

          Anh trèo cành này, hoa nở cành kia


          Anh trượt chân ngã xuống vườn cà

          Chiều kịp trổ giàn trầu anh đứng tựa

          Từ dạo ấy tầm xuân không nở nữa

          Anh lên đồi, trinh nữ tím rưng rưng


          Anh lên đồi, gió hát nụ tầm xuân

          Thấy con chim xanh nhảy quanh hòn đá

          Anh xuống suối vớt đầy tay cá

          Vớt đầu này để thả đầu kia


          Anh quay về, chiều ấy giêng hai mưa

          Cầu vồng thấp ngang đầu, vườn kịp nắng

          Trèo cành bưởi, đắng một bông hoa trắng

          Bước xuống vườn cà, chát một nụ tầm xuân.




                      
               1984






Đồng dao



                                           (Xin đọc theo kiểu đồng dao)



                    Ù à ù ập

                    Ngã vào đâu đây

                    Lá cỏ thì mềm

                    Xác thân thì nặng

                    Mù giăng chằn chặn

                    Mà em sương mai

                    Ta buồn nhóm lửa

                    Sáng lên hình hài


                    Thì kiêu sa đi

                    Khi còn xuân sắc

                    Khi còn vằng vặc

                    Khi còn chơi vơi

                    Ta giờ như nước

                    Thung thăng về trời


                    Ngồi vẽ mặt mình

                    Mắt môi nhòa thế

                    Ngồi vẽ mặt người

                    Rạng ngời như thể


                    Có con chim chi

                    Chiều chiều đứng hót

                    Ai thường thảng thốt

                    Thì về mà nghe

                    Ai người đam mê

                    Thì ra mà ngắm


                    Một người nhớ nắng

                    Đi vào hoang vu

                    Một người áo trắng

                    Chìm trong sương mù.




Giả ca dao



 

                        MỘT



            Ai đem tu hú lên ngàn

         Để cho nó gọi bẽ bàng thế kia


            Ngồi buồn thấy con thia thia

         Bơi qua bơi lại sớm khuya một mình


            Thò tay mà bắt con chình

         Con chình tuột mất, tội tình con lươn


            Con tôm búng khỏi cái mương

         Con cóc vừa ở thiên đường nhảy ra


            Con rít điếu đóm con gà

         Con rùa rụt cổ, ba ba giật mình


            Con dê giả bộ làm thinh

         Để con sư tử thình lình rống lên


            Nam Tào lúc nhớ lúc quên

         Cầm sổ không biết gạch tên con gì.







                        
HAI




           
Con cò mà đi ăn đêm

         Thấy con hạc lẻ êm đềm với ai


            Cò về khóc đứng khóc ngồi

         Hạc ơi hạc hỡi, bạc tôi sao đành


            Cò chê trăng rộng như rằm

         Hạc chê giường chật ra nằm mái hiên


            Rồi khuya cò hạc lên tiên

         Cái tình lại ấm, cái duyên lại mềm


            Con cò lại đi ăn đêm...





Hai câu

 




     1.  Ngôi sao ngủ quên trên đỉnh núi già cổ tích

         Sau một lần tin cậy gửi vào đêm.



     2.  Nước đi qua tầng lá mục cất tiếng gọi xanh

         Chỉ có tiếng thì thào vòm lộc mơ vang khẽ.



     3.  Gió làm rách những cánh buồm ký ức

         Lan man cỏ mọc phía không người.



     4.  Đã rêu những dấu chân đã ẩm mốc những dày vò

         Tao nhân ngồi phong những huyệt mồ trang sức.



     5.  Ngày trời đất hóa rạch ròi vuông vức

         Có dòng sông lặng lẽ xóa đôi bờ.


Bão




 

                   Va đập trong này là quăng quật ngoài kia

                   Tôi và bão cách nhoà ô cửa kính


                   Những con chữ nương vào nhau tôn vinh nhau

                   Những giọt mưa xé phận mình cho gió


                   Tôi sắp đặt câu thơ như luống cỏ

                   Bão vô tư nhặt nhạnh phía không nhà


                   Những chuyến tàu bình yên tôi trôi qua mắt đợi

                   Người vội chi ngoài kia người tất tả người


                   Bão lập thu à, mùa thu nào phải thế

                   Lối thu xưa giăng mắc lắm kia mà


                   Trong mơ hồ thu tôi làm sao biết

                   Bao mùa thu mẹ tôi người giắt ngang lưng


                   Vậy mà đêm nay tôi và bão song hành

                   Phận con ong cái kiến cũng tan tành


                   Bao mồ hôi cuốn phăng rồi còn đâu nữa

                   Bao nhiêu nước trút cả rồi còn đâu nữa


                   Bà con ơi

                   Mắt sớm mai này còn giọt để rưng rưng ?










Về quê (2)

 



      Gió đi qua những mái tôn nhà nghèo

      Tôi sập cửa này gió qua cửa khác

      Gió mang theo mùi rau muống

                                       dấp chút trăng lẻ bờ ao

      Gió mang theo tiếng ếch va vào

                  căn phòng mười mấy mét vuông xanh

      Tiếng ếch ồm ộp

      Tiếng ếch bầm dập

      Tiếng ếch bết bùn

      Cực cái thân mày ếch ơi.



      Lụt trắng ngoài kia

      Chưa đến hăm ba tháng mười

      Hết lụt thì tết

      Qua tết lại giỗ

      Tháng giêng cô láng giêng có người chạm ngõ

      Ếch mày còn kêu đến tháng giêng không?



      Tiếng ếch giục

      Thằng bạn tôi nghèo
                        đem gieo một thúng ước mơ

      Đến giờ chưa thấy trỗ

      Nó về vỗ khúc đồng dao

      Nghêu ngao mà hát.



      Đêm nay một góc

      Ếch kêu bời bời

      Ếch kêu đầy chật

      Tôi nằm rỗng không

      Một trong lần lữa

      Một ngoài âm âm

      Không dưng mà buộc

      Chi mà thắt ruột



      Ai phiên dịch giùm tôi

      Con ếch nó kêu gì?



1 2 3 4  Sau»