Văn học Gia Lai, một năm Cọp được mùa... lúa !
“Choáng” với miên di.
Tôi muốn viết bài này khác với thông lệ mọi năm, bằng cách đẩy cái hình-hài-cá-nhân ra đằng trước, rồi chuyện “làng nước” sẽ từ từ viết sau vậy.
Năm ngoái, cũng khoảng tầm này, tôi tình cờ được đọc thơ Vi Thủy và viết ngay đôi dòng cho những trang viết mới mẽ mà lạ lẫm này. Bây giờ thì Vi thủy vẫn mới mẽ, dù không còn lạ lẫm với bạn đọc nữa và tôi luôn dè dặt kỳ vọng vào cây bút trẻ này. Vi Thủy là một phát hiện bất ngờ thú vị, là hoa đào năm ngoái. “Choáng” với miên di là tâm trạng của tôi những ngày cuối năm này. Tôi không viết sai bút danh của miên di đâu ạ. Cứ miên di thế, chứ không phải là Miên Di. Phải chăng đó cũng là một cái cách để bước đầu ta tiếp cận với cây bút này. Ngẫu nhiên tôi đọc miên di và tự tìm đến anh, rồi tôi thật sự “choáng” trước anh, với những gì anh vừa làm được cho văn chương trẻ hay cái khu vực văn học được mệnh danh là “hậu hiện đại” kia, ròng suốt nửa năm qua.
miên di tên thật là Lê Xuân Hòa, sinh năm 1976, hiện ở Pleiku, đang kinh doanh chút chút, thoạt nhiên làm thơ chùm chùm, băm bổ viết trường ca, viết truyện ngắn cho người lớn, cho thiếu nhi, rồi hốt nhiên nhảy sang cày ải bên tiểu luận, tạp bút, phê bình, xập xí xập ngầu đủ cả. Chẳng hạn “Tân Dế mèn phiêu lưu ký” là một kế hoạch nhỏ trước mắt và trường ca “Những trang tối” là một đầu tư lâu dài của anh, dù rằng chính anh cũng không biết (hay không cần biết) mùa vụ sắp tới nó sẽ “xanh cỏ” hay “đỏ ngực” như thế nào nữa. Mà, quái, viết ra cái nào gần như được in cái nấy, trong tỉnh, ngoại tỉnh, trên Văn nghệ trẻ, trên những trang web văn chương có hạng. In không kịp thì anh post lên blogs, lên web, hết miendi.vnweblogs.com đến miendi.com, những trang màn hình đặc kín những con chữ mà nếu mới vừa đọc qua, hiểu chết liền. Bây giờ, hãy nghe những đoản khúc thơ anh:
Những đứa bé / bị đẻ vào bi ai người lớn / lê la trên mảnh vỡ thủy tinh hôn nhân sắc nhọn / khóc ré...(Trang 11) - Không mới lắm, nhưng dù sao cũng tạo được những hình ảnh và âm thanh ấn tượng.
Bãi tị nạn Thơ / chật những linh hồn...(Tiếng rắm của Thơ) - Có thể sẽ có người dị ứng với cái tiêu đề, nhưng những câu thơ kia là cả một sự dấn thân quyết liệt.
Chiếc lá vàng chợt hiểu mình là rác / ai đem buồn vứt vào sọt trăm năm...(Trang 1) - Nghe vừa quen, vừa lạ.
Cái gối mềm trăn trở mãi không êm / kẽ dột thấm loang tường chút lạnh...(Nhánh đêm gầy) - Dường như có cái gì đó vừa lăn qua da ta, loang vào hồn ta, một chút ngậm ngùi.
Tiếng dế gáy trong ngăn lòng rưng rức / cọng chiếu sờn cạ tủi một manh vênh...(Mùa chiều) - Tiếng dế gáy trong ngăn lòng rưng rức đã là rất ổn, nhưng âm thanh quen thuộc này vẫn văng vẳng đâu đấy, tiếng dế của nhà nào ấy, của cánh đồng nào ấy. Nhưng đến cọng chiếu sờn cạ tủi một manh vênh thì đặc biệt lạ với riêng tôi, như một kiểu “hậu hiện đại” chấp nhận được. Nghe đâu đó hình như có một chút Lê Đạt, mà không phải, một thoáng đâu đó của một cây bút trẻ nào chăng, mà cũng không, tuyệt đối không. Đó là 100% miên di, của miên di.
Đến những trang viết lẻ của miên di thì, gọi nó là gì cũng được, thôi tạm gọi là tiểu luận, mà nếu không phải là người quen thì tôi chắc không dễ gì đọc hết, đọc hết có mà tẩu hỏa nhập ma. Khiếp. Một trang “Văn nghệ trẻ” kín dằng dặc những chữ là chữ, những con chữ không thể liếc qua một lần. Hãy nghe miên di viết: Chúng ta vẫn thường xuyên bắt gặp những băn khoăn, thậm chí cãi vã về một nội dung nôm na là: Có cần thiết không khi cứ lợp ngói nhà mình bằng tôn thừa nhà người khác? Những mái tôn “hậu hiện đại, tân hình thức” lượm về từ những môi trường văn hóa khác ấy, liệu có vừa với kết cấu rui mè của tâm hồn người Việt, vốn đã quen nếp rạ mái tranh? Cá nhân người viết vốn không cổ súy việc “tận dụng” phương pháp sáng tạo nhà người để “gò ra” những cái khuôn tuyên ngôn thơ này, trường phái thơ nọ để nhốt chính mình, cái cần thiết là ở sự giao thoa...” (Thơ ý niệm con đường tiệm cận thực tại vô thể).
miên di viết như thể bị ma đuổi, như thể để tiêu hóa cho kịp nhanh kịp hết cái vốn liếng ngồn ngộn mà anh vừa tiếp nhận kia: Nghệ thuật, vốn có vị trí đi trước quán tính ì ạch của xã hội, bởi xã hội có tương quan rộng, vì thế nghệ thuật thường… cô đơn, nó như con sếu đầu đàn, mà đâu phải con nào cũng về tới đích toàn thây, vì luôn phải là kẻ đầu tiên phải hứng chịu “bão gió”. Nhưng nhờ thế mà mang lại cho xã hội những tiếng nói kháng nghị, những lời sấm truyền dự báo... Thơ cũng như hội họa, văn học… đang phải trải qua sự lục vấn truy tìm giá trị của quyền lực thời gian, trên bãi sống ngổn ngang bao nấm mồ vô danh của những tác giả không thể tìm được con đường đi tiếp. Họ, lúc ra đi thì hăm hở nhưng dần hồi chết gục dần giữa sa mạc mông lung… nhưng những người khác lại vẫn đã tiếp tục, vẫn viết tiếp sự dở dang. Và chắc chắn một ngày nào đó sẽ về đến đích… (Nàng thơ dậy thì và cơn đói đương đại)
Một cuộc rượu, miên di tâm sự với tôi: tuổi thơ em, thôi khỏi nói còn hơn, em không được học hành nhiều, em cũng mới viết đấy thôi... Không cần thiết đâu miên di à. Với tôi, lâu lắm rồi tôi mới gặp một khuôn mặt như thế đấy. Một miên di vong niên chơi được, một miên di đa diện, đa thanh bằng những thể nghiệm đôi khi khá liều lĩnh, văng mạng, mâu thuẫn và xung đột, với những triết lý cỏn con chênh vênh trên cái điểm tựa do anh tự cấu trúc và trần mình ra lắp ráp. Tôi thấy miên di đang lầm lũi bước, vừa đi vừa vén sương, bước một vén một màn sương, thì bước hai kia đã ba bốn màn sương ùa tới, cứ thế, cứ thế và những màn sương trước mặt anh mãi trập trùng, thăm thẳm.
Đã hé lộ một lớp cây bút trẻ mới và mới.
Đó là những tín hiệu cực vui dù nó còn nhấp nháy đâu đó bên kia trời, mà có thể tôi còn bị sót với lần “điểm danh” này. Họ nhiều bút danh quá chăng. Cũng giống như mình thôi, mới viết thì lắm tên lắm tuổi và thường tự sướng với những bút danh ấy khi một bài viết nọ được đăng.
... Đó là căn nhà của gió, căn nhà trống hoác gió bốn mùa cười nói vui vẻ, cứ ào tới bên nó cười đùa vui vẻ, ve vuốt mái tóc đỏ quạch bết mồ hôi và bụi đất của nó, lúc thì gió cuồng nộ gào thét xung quanh như những cơn say mệt nhoài của mẹ. Nó yêu vô cùng sự nhẹ nhàng của gió, yêu những lúc giận hờn cuồng nộ gió cứ quấn lấy nó, thè cái đầu lưỡi lạnh lùng liếm vào làn da tím tái vì rét, vì lạnh, và vì đói khi đợi mẹ...
và đây nữa:
... Nó lặng im nhìn hạnh phúc tràn về bên mình khi nghe lời cầu hôn chính thức của Minh, khép lại mọi cơn ác mộng ở phía sau lưng để cùng gió tìm về thiên đường tràn ngập tiếng cười của gió, của Minh, của nó và của một đứa trẻ đang thành hình trong tình yêu của gió...
Đấy là tôi trích đoạn một truyện ngắn của Chu Lê. Chu Lê là bút danh của Lê Thị Kim Sơn, lại một cô giáo dạy họa ở huyện Đăk Đoa. Vi Thủy cũng là dân hội họa chính gốc. Hóa ra họ cũng là bạn của nhau, đồng môn và cùng một lứa bên trời. Hình như miên di cũng có máu “vẽ vời” kia lắm, cứ xem anh trình bày cái con web của anh thì tỏ. Thế là một lớp dân hội họa (hoặc thích hội họa) làm thơ đã lộ diện. Trong thơ có họa, trong họa có thơ, và vì thế mà so với những ngành nghệ thuật khác, thơ với họa chúng gần gũi hơn chăng. Lê Thị Kim Sơn, một tay vẽ, còn tay kia viết truyện, cả làm thơ. Thơ Sơn in cũng đã kha khá trên Tạp chí Văn nghệ Gia Lai rồi, nhưng truyện mới là cái mà tôi chú ý đến chị. Mà bước đầu xuất hiện thế là được lắm rồi. Thời của chúng tôi nó không được sạch nước cản đến như thế đâu, cứ phải kì cạch mãi đấy.
Năm nay Văn nghệ Gia Lai in khá nhiều tác phẩm của các cây bút trẻ, đó là một sự mạnh tay cần thiết. Họ, có người tôi biết, có người tôi không, nhưng rất mừng khi lấp lánh đâu đó trên những trang viết mới lần đầu dè dặt gửi đến tòa soạn, ta bắt gặp một tứ truyện, một câu thơ khiến ta bất giác cúi xuống nhìn lại mình: Con cá bống vàng chiều nay đã chết / trong cái niêu đất / tại nhà hàng gì gì đó Lâm...(Những câu chuyện liên quan đến cái chết - Nguyễn Doãn Hùng). Tác giả của nó là một thầy giáo trẻ ở huyện Krông Pa và không hiểu sao tôi cứ vô tư thích cái câu thứ ba vừa trích dẫn kia, như vu vơ, như gió thoảng, như một tiếng đệm không cần thiết, như không là gì cả, nhưng nó lại rất đặc trưng cho một lối viết trẻ bây giờ, chênh vênh trong cái sự không vướng một lề thói ràng buộc nào cả, nhưng những trang viết của họ thì luôn đẫm chất “kiến văn” mà lý do đầu tiên bắt nguồn từ sự ưu ái của thời đại dành cho họ, chẳng hạn internet.
Và đây nữa, Thái Uyên, một blogger con trai, tên thật là Trần Lê Thái, “Vẫn ngày rất phố” là tập thơ đầu tay mới rượi, rụt rè em gửi tặng tôi, thêm một minh chứng rằng thơ vẫn tồn tại trên cõi đời này. Thơ Thái Uyên còn nhiều bài chưa tới, nhiều tứ chưa chín, nhưng những câu như thế này làm tôi nhớ: Bềnh bồng / Bong bóng bềnh bồng / Chị tôi cõng chồng / Đánh rớt nơi đâu /...(Bong bóng bềnh bồng) - Nghe heo may lẩm bẩm / Cánh thiệp cưới mùa xuân /...(Cho X2) - Buồn tôi. Buồn dài canh ba gà chẳng gáy / Buồn thế giới eo óc vết nhăn hình đầu đạn / Buồn sao tắt em không cười như mơ / Buồn long nhong tang ma tang lễ áo tang xô / Buồn đầu trọc, giá xăng tăng vọt / Buồn bikini váy ngắn thậm thụt /...(Buồn tôi, mua không).
Có thể còn kể ra đây vài gương mặt nữa, những nhiệt-tình-văn viên đáng yêu. Nhưng với những gì họ mới trình làng, cánh cổng văn chương khắc nghiệt kia vẫn còn đó, đỏng đảnh lỏng then cài.
Ít rảnh, nên lâu lâu tôi mới ngồi với họ một tí, những Vi Thủy, miên di, Lê Thị Kim Sơn, Nguyễn Doãn Hùng, Thái Uyên, Nguyễn Minh Tuấn,... Rồi có rượu, tôi thường anh cả với họ, thôi đừng mê mải viết về Tây nguyên như thế nữa nhé, ngày xưa mới chân ướt chân ráo lên đây mình cũng thế, những sắc màu hào phóng và chói lóa, những cồng chiêng rộn rã trên nền nhạc, những khuôn ngực thanh tân sơn nữ lên tranh, những vòng xoang túy lúy bà già hổn hển trên từng thớ gỗ, những dã quỳ thơ chiều hắt vàng lên nỗi nhớ, vân vân và vân vân... Tây nguyên nó thế, những không hẳn thế các em ạ, cũng có một góc khuất Tây nguyên với những gam màu trầm mặc lắm, héo hắt lắm và đôi khi cũng trì trệ lắm. Sống chết với Tây nguyên đã, rồi hẵng cầm bút. Đẫm với Tây nguyên đã, rồi hẵng viết. Khuyên họ thế, nhưng chính mình cũng không biết phải làm thế nào, những con Kinh nhỏ thó giữa Tây nguyên đại ngàn.
Còn đây, những lứa bên trời.
Nãy giờ, không nhắc đến họ không có nghĩa là tôi lãng quên họ, mà vì họ đã định hình trong lòng bạn đọc, những cây bút vẫn còn trẻ (dù tuổi đã hòm hòm), còn sung sức và đang miệt mài thâm canh hoặc xen canh trên cánh đồng chữ nghĩa. Đối với họ, cứ định vị mãi một phong cách lập ngôn như thuở bước vào làng văn đôi khi là một điều cần phải xem lại.
Đó là một Ngô Thị Thanh Vân vẫn đằm thắm mà dằn vặt trên từng trang viết: tháng sáu nơi này mưa giăng ngập lối / ngày mười hai bão táp điên cuồng / con nhận ra những câu thơ nổi loạn / chẳng thể giữ nữa rồi...(Tháng 6). Nhưng rồi những con chữ nửa tỉnh nửa mê kia đôi khi ngoái đầu nhìn Vân gọi khẽ: hãy thử bỏ bớt một vài trong chúng tôi, hãy thêm cho chúng tôi những người bạn mới, và hãy thử một lần “tái cấu trúc” chúng tôi lại, nhà thơ ơi.
Đó là một Hoàng Thanh Hương trong tươi tắn kia những con chữ đã bắt đầu cựa quậy, bứt lên, đoạn tuyệt, rồi hụt hơi giữa lớp lớp sóng chữ mênh mông: Bên kia tiếng càu nhàu nhàu con cái / Tiếng quang thúng sắp sửa lên vai / Mùi nhân bánh thơm mời mọc / Người mẹ bắt đầu một ngày / Lũ trẻ bắt đầu một ngày / Cho mùa xuân sắp tới...(Âm thanh).
Đó là một Vũ Thu Huế vẫn xa vắng mong manh lan tỏa âm thầm: ở đó / xa xa phía môi em / em đang vẽ con lạc đà thương thầm chiếc u quá nhỏ / chẳng đủ để chở những giây phút trở mình / những giây phút trở mình cùng vạt trăng non...(Những dòng...lý sự của em). Nhưng rồi cũng vẫn là sức lan tỏa của những con sóng ấy mà thiếu đi, dù chỉ một vài ngọn sóng dám mạnh dạn quay đầu trước khi triều dâng chăng.
Đó là một Nguyễn Quảng Hà luôn thủy chung với những câu tình ngọt ngào quẩn quanh của một nhà thơ công chức bộn bề và mẫn cán: Để hờn dỗi cứa vào nơi khóe mắt / có gì đâu hạt cát lạc ấy mà / nhoang nháng nước cuối trời nghe chớp giật / núi cũng rùng mình khi biển chẳng còn em...
Đó là một Nguyễn Đình Phê cặm cụi với những con chữ cũng có hồn có vía, nhưng dường như những bài thơ mà anh gửi cho Tạp chí Văn nghệ Gia Lai nó như đã được mặc định một cách chắc nịch bằng bộ đồng phục trang nghiêm, chẳng hạn, đang Mùa rất lạ / heo may vừa mới đấy / thoắt đầm đìa sương rơi..., thì lại Vạm vỡ quá / Ngời lên sức sống / Pleiku tạc núi, biển bên trời...(Ngẫu khúc Pleiku). Tôi nhớ đâu đó, hình như trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội thì phải, anh vẫn có những bài được hơn nhiều, chí ít là những tứ thơ lãng đãng như cái phố núi sương mù kia, nơi mà anh đang hít thở và bước đi.
Đó là Nguyễn Thu Nguyệt, vẫn chưa hết nghẹn ngào: Đêm từng đêm / Em tha thẩn từng con đường hoang vắng / Ngửa mặt / Chờ vì sao bay lạc phía chân trời. Rồi cũng Nguyệt đó, bên những đều đều ngọt đắng chừng mực: Hoa cải vàng ươm sắc nắng / Em ru lòng trong yên lặng / Tháng ba / ... / Những câu thơ suốt một đời dang dở / Như tình yêu dang dở / Tự bao giờ anh đến với em...(Tháng ba)...
Mình là dân thơ, nên thường lấy thơ ra làm ví dụ và vì thế đôi khi làm cho bài viết cũng lệch hẳn một bên. Giờ mới sực nhớ. Các cây bút văn xuôi (hãy còn trẻ) của tỉnh nhà đâu rồi. Một Trương Lệ Hằng truyện, năng động một tín hiệu, giờ đang ngồi phỏng vấn một ai kia. Một Nguyễn Công Tùng Chinh với những truyện ngắn khởi đầu mà theo tôi, hứa hẹn một tài năng, giờ biền biệt phương nào. Và còn ai nữa. Dù gì thì thơ cũng chỉ là rượu, văn xuôi kia mới là cơm trên cái bàn tròn văn học này đấy.
“Nhánh” An Khê của Tây Sơn thượng đạo bao giờ cũng là một vùng đất có bề dày võ thuật và văn chương. Năm nay, sau những hồi lần lữa rồi “đẩy nhanh tiến độ”, Chi hội Văn học nghệ thuật thị xã An Khê đã được thành lập. Qua một ngọn đèo quanh co với dằng dặc những thung lũng dã quỳ vàng, có lẽ đó là lý do “chính đáng” mà một vài cây bút An Khê đôi khi vắng mặt trong các cuộc giao lưu hay sơ tổng kết thường niên. Nhưng trên tạp chí văn nghệ của tỉnh nhà thì, theo tôi, hai gương mặt có tên “có tuổi” này luôn hiện diện: nhà thơ lão thành Quốc Thành và nhà thơ lớp U60 Nguyễn Thiện Đức.
Tôi kính trọng nhà thơ Quốc thành ở cái nghĩa cữ muối mặn gừng cay xin còn có nhau đối với văn chương, khi tuổi đã đến hồi “xưa nay hiếm”. Những trang viết về vùng Tây Sơn thượng đạo của ông luôn là những tư liệu sưu tầm công phu, nhưng rất tiếc khi chúng còn có thể được “đẩy” lên hơn nữa, ánh lên những thăng hoa hơn nữa để trở thành những truyện ngắn lịch sử để đời.
Nguyễn Thiện Đức là nhà thơ mà tôi hằng quý mến vì tôi biết, để có được hàng trăm câu thơ kia anh phải trả giá bằng hàng trăm ngày vật lộn với lam lũ. Anh viết như thế này, trong bài thơ “Những khoảnh khắc”: lách ra khỏi những chen lấn giựt giành / ta tìm về bên ngõ chiều có bóng tre liêu xiêu dáng mẹ / lách ra khỏi những ầm ĩ cuộc đời / ta trở về nơi một mình mình với câu thơ lặng im khắc khoải... Rồi với “Những câu thơ trên cát”: đi tìm giấc mơ mang cánh đồng mùa vụ / đi tìm những chân trời thênh thang hình cánh chim / đi tìm những bàn chân dáng con thuyền lướt sóng..., đã dần lộ ra Nguyễn Thiện Đức, một “Chân dung”: gió vẽ khuôn mặt ta trên cát / những dải cát mịn màng trắng thơm / những bờ cát yên lành tinh khiết / và khuôn mặt ta như giấc mơ in ngàn dấu chân trẻ thơ lẩm đẩm... Đó là những vần thơ chân thành như chính cuộc đời anh, một chân dung rõ ràng là anh mà lẽ ra có thể cũng cần nên giấu đi một vài nét cọ để dành những khoảng trống kia cho người đọc tự đắp bồi.
Còn nhiều, nhiều nữa những gương mặt, một lứa bên trời lận đận, khi đến đây bài viết thì đã quá dài nhưng vẫn còn một chuyên mục tế nhị tiếp theo đây mà tôi muốn nhân dịp để bày tỏ.
Giải thưởng và tài trợ, được mùa “lúa” có úa mùa “bạn”?
Năm nay, các tác giả được mùa “ra tập”. Như Văn Công Hùng với một “Văn Công Hùng lục bát”. Như Hương Đình tôi với “Góc núi”. Như Chử Anh Đào với “Khúc đồng dao cho người lớn”. Như Nguyễn Thiện Đức với cả một trường ca về Mẹ. Như Thu Loan với “Sương chưa tan làng trăng” tái bản, có bổ sung. Và còn ai nữa, tôi không nhớ hết. Sòng phẳng mà nói, có tập ra vì cái “tình”, nhưng cũng có tập vừa “tình” vừa “tiền”, he he...! Mà điều này thì đâu có gì mà tội lỗi. Xuân thu rồi mấy nhị kỳ, nhanh thật, Giải thưởng văn học nghệ thuật 5 năm lần thứ hai (2005 - 2010) của tỉnh nhà lại đến, với tổng số tiền thưởng dự kiến cao ngất trời mây. Ai mà chả ham, nhất là với mấy nhà văn nhà thơ còm cõi này. Các hội đồng từ sơ khảo đến chung khảo đã được thành lập. Vòng sơ khảo đã cho kết quả. Đến khi bài viết này đến tay bạn đọc thì kết quả chung khảo chắc đâu đó đã xong xuôi. Các tác giả đạt giải sẽ được vinh danh. Sau buổi lễ ấy người được, người chưa, “giám khảo” và “thí sinh” bất giác nhìn nhau mà ái ngại. Chung khảo thì còn có giám khảo “lạ”, chứ còn sơ khảo thì nhà văn này nhìn mặt nhà thơ kia, cơm chấm cơm, với bao điều khó nói ra. Riêng tôi, “chủ xị” bất đắc dĩ vòng sơ khảo chuyên ngành văn học, việc tỉnh giao thì phải gánh, phải làm, cho tròn trách nhiệm, chứ không thì chắc thà lẻn cho khỏe. Rồi lại đến Giải thưởng văn học nghệ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ nhất - năm 2010. Có khác đôi chút, nhưng rồi quẩn quanh cũng chỉ những gương mặt ấy, những “giám khảo” và những “thí sinh”. Những giải thưởng định kỳ và những suất tài trợ thường niên hòng kích thích cho sự ra đời của những tác phẩm như hằng mong đợi. Những khoản kinh phí nho nhỏ, nhưng chắt ra từ những giọt mồ hôi nhọc nhằn lấp lóa của nhân dân vĩ đại. Được mùa “lúa” có úa mùa “bạn”? Tôi lẩn thẩn nghĩ. Lẩn thẩn nghĩ thế thôi, vì tôi biết bạn tôi sẽ hiểu. Điều lớn lao hơn là những dòng thơ ấy, trang văn nọ, bức họa kia sẽ làm được gì trước muôn nỗi khốn khó thường nhật của những nông dân quanh năm mặt cắm xuống đất mông chổng lên trời, những công nhân mỏ hàn quai búa lọ nghẹ thường niên, những chị mẹ cô dì ta sớm chiều buôn thúng bán bưng đầu tắt mặt tối...
Định kết thúc bài viết này, oải quá rồi, thì chợt nhớ rằng ồ còn một sự kiện lớn như thế của đại sự văn đàn quốc gia trong năm nay mà mình chưa đề cập. Thôi thì, muôn thưở một câu như thế này: Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2010 - 2015, đã thành công tốt đẹp và nhà thơ Văn Công Hùng của tỉnh ta là một trong mười lăm người “lọt” được vào Ban Chấp hành.
Noel 2010
Bản in



